Nguyệt San Giao Muà - Số 287

Nguyệt San phát hành định kỳ vào mỗi đầu tháng

www.GiaoMua.com

Nguyệt San Giao Mùa
Merrifield, Virginia 22116
USA

GiaoMua2025@gmail.com

+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Số 287

Ngày 1 tháng 8 năm 2026

Home | Những Số Cũ | Thư Ngỏ | Liên Lạc

Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Ðinh Trường Như (TK Trung Kỳ)
Ban Biên Tập: Mạc Phương Ðình, Phan Thái Yên
Chung Thủy, Nguyễn Thị Thanh Dương
& TK Trung Kỳ
Kỹ Thuật: Đồng Mỹ

Mọi bài vở đóng góp xin gửi về GiaoMua2025@gmail.com

Web Counters

Copyright 2002 by Giao Muà e-magazine and respective authors

++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Bài vở trên Giao Muà là do các tác giả gửi đăng và Giao Muà không chịu trách nhiệm về nội dung. Muốn xin trích đăng lại, xin liên lạc với GiaoMua2025@gmail.com.

I . Thơ _______________________________________________________________________

1. NGƯỜI ANH CHU VĂN AN Nguyễn Thị Thanh Dương
2. Giai điệu mùa Thu Hồ Thụy Mỹ Hạnh
3. SUY TƯ Bạch Liên
4. Vội Qua Cầu Hàn Thiên Lương
5. Tự khúc khóc_cười
6. Anh không trả được Lê Miên Khương
7. ƯỚC AO KIM LOAN
8. Trở Về Tổ Cũ Chinh/Hong Nguyen-HNT
9. Nhìn Pháo Hoa Nhớ Mẹ Thơ Chương Hà

II . Văn _______________________________________________________________________

1. HÂM NÓNG TÌNH GÌA Nguyễn Thị Thanh Dương
2. JULY 4TH KỂ CHUYỆN: MỸ NÓI LÀ LÀM KIM LOAN
3. Ký Sự Hà Giang Thanh Hà
4. Cô gái mang trái tim của người yêu - Phần 14 Phan Thái Yên
5. Cứu Cánh Bạch Liên
6. Mất Còn Một Tình Yêu Hiếu Thảo- Hương Dạ Thảo
7. Afghanistan, nhìn lại từ đầu: Liên xô/ Mỹ bỏ chạy... Hoàng Long Hải
8. MƯA QUÊ HƯƠNG Đinh trọng Phúc
9. CHỊ HÀNG XÓM CŨ KIM LOAN

III . Tin Tức /Trả Lời Bạn Ðọc__________________________________________________

1. Tin Tức/Trả Lời Bạn Ðọc _______ Ban Biên Tập

I . Thơ __________________________________________________

1. NGƯỜI ANH CHU VĂN AN 

1.1 NGƯỜI ANH CHU VĂN AN
( Cảm tác từ truyện ngắn “Người tình Chu Văn An” Lê Thị Nhị).

 

Hỡi người anh Chu Văn An thuở ấy

Vào đời tôi tuổi mới lớn mộng mơ

Anh ngọt ngào mà tình vẫn như chưa

Chưa là yêu vậy tình gì anh nhỉ?

 

Cùng bạn bè chúng ta vui văn nghệ

Các bạn anh hát những bản nhạc tình

Anh đọc thơ “Yêu hết một mùa Đông…”

Bài thơ ấy làm tôi bâng khuâng mãi.

 

Anh đã nắm bàn tay tôi con gái

Anh đã hôn  mái tóc tôi thì thầm:

Em mới gội đầu bồ kết phải không?

Hương bồ kết có làm anh thương nhớ?

 

Chưa nói yêu, chưa bao giờ anh hứa

Anh lửng lơ anh chiều chuộng tặng quà

Không món đắt tiền son phấn, nước hoa

Chỉ ô mai, ly thạch chè Hiển Khánh…

 

Anh mua tặng cho tôi những bài hát

Chép những bài thơ trên giấy pelure

Vẽ cánh hoa xinh bên cạnh bài thơ

Bài thơ tình. Đọc thơ tôi mất ngủ.

 

Hỡi người anh Chu Văn An một thuở

Gieo làm chi những giấc mộng nửa vời

Để tôi chờ mà tình vẫn xa xôi

Hay anh chỉ xem tôi là em gái?

 

Bao năm qua, quê người ta gặp lại

Anh ở miền Tây tôi ở miền Đông

Anh vẫn  như xưa trìu mến hỏi thăm

Tình có như không, tình không như vẫn…..

 

Tôi đã biết nhìn cuộc đời rất thật

Kể từ khi anh tặng trái tim đau

Không ngây thơ lãng mạn thuở ban đầu

Thuở anh lửng lơ con thuyền không bến.

 

Giờ tóc tôi không thơm mùi bồ kết

Bài thơ xưa anh chép đã lạc dòng

Anh lại đọc “Yêu hết một mùa Đông…”

Anh  vẫn là anh. Tôi  là em gái.
 

1.2 ĐÀ LẠT CỦA TÔI.

( Cảm tác bài thơ về Đà Lạt của Phong Châu)

Đến Đà Lạt bằng trái tim yêu

Nên dù có xa cách bao nhiêu

Tôi đi bằng chuyến tàu không vé

Chẳng đợi buổi trưa hay buổi chiều.

 

Tôi chưa đến Đà Lạt bao giờ

Nhưng tôi đã đến bằng hồn thơ

Ngắm Hồ Xuân Hương hoàng hôn xuống

Ngắm thành phố buồn trong sương mờ.

 

Thung Lũng Tình Yêu ở nơi đâu

Người yêu người sẽ đến tìm nhau

Về đây lên đồi thông xanh biếc

Nghe lòng mình tiếng gió thông reo.

 

Đến chân đèo thăm thác nước Prenn

Bọt tung trắng xóa ngỡ thần tiên

Này thác Cam Ly, Hồ Than Thở

Cà phê Tùng tôi đợi người quen.

 

Thành phố ngàn hoa thấy mà thương

Tím Cẩm Tú Cầu, tím Oải Hương

Tôi yêu Dã Quỳ vàng rực rỡ

Yêu cả màu vàng hoa Hướng Dương.

 

Tôi đến Đà Lạt đã nhiều lần

Trong giấc mơ xa, giấc mộng gần

Hôm nay tôi lại đến Đà Lạt

Thăm lại người xưa của lòng mình.


Nguyễn Thị Thanh Dương 
Mục Lục


2. Giai điệu mùa Thu 2.1 Giai điệu mùa Thu Chiều Thu, mây trắng về đâu Không gian hiu hắt tiếng sầu vọng đưa Chao ôi người của năm xưa Có hay đã mấy mùa mưa đi về Dòng đời như một cơn mê Làm sao giữ ánh trăng thề đợi mong Buồn bàng bạc giữa mắt trong Người đi quên mất đường vòng Lâm Viên Quên dần áo tím ngoan hiền Biết ai tâm sự ngoài riêng cây đàn Dạo hoài tình khúc dở dang Mong người chiến sĩ hiên ngang thuở nào Ngày càng vắng bặt âm hao Gió ơi buốt lắm gió vào chi đây Mưa ơi ướt đẫm hồn này Thu ơi lá vẫn còn bay trong chiều Anh ơi ơi có một tình yêu Như là huyền thoại một chiều nắng phai... 2.2 Bây Giờ Là Mùa Thu Em nghiêng trái tim em Nỗi sầu không trút hết Kỷ niệm còn nối kết Ngày xưa với bây giờ. Hình như mùa Thu về Không gian chừng trở lạnh Cơn mưa chiều đã tạnh Sao còn buốt hồn em. Anh còn nhớ hay quên Nghìn lần em tự hỏi Cánh chim trời có mỏi Đôi cánh mềm phiêu du. Bây giờ là mùa Thu Bây giờ là nỗi nhớ Cao nguyên buồn muôn thuở Sương phủ mờ trời chiều. Tình yêu có những điều Không làm sao hiểu được Những gì trong mơ ước Mấy ai mà được tròn… Hồ Thụy Mỹ Hạnh
Mục Lục


3. SUY TƯ
Tôi tự nhớ ra một thứ cần thay Hôm nay đọc tin tức về… tu bổ Nếu không nghĩ tới, thì khi xảy ra Chắc phải nhức đầu vì tiền bay ra * Nếu không thay thì càng thêm tệ hại Tôi muốn nói căn nhà mình làm chủ Ai vừa đặt chân đất nước tự do Sau thời gian làm kiếm tiền trang trải * Trả bills, trả góp hàng tháng mua xe Trả tiền mướn nhà mới càng quá khổ Vài năm… cũng nghĩ tới chuyện an cư Đêm về gác tay lên trán suy tư JULY 11 - 2026

Bạch Liên

Mục Lục


4. Vội Qua Cầu 4.1 Vội Qua Cầu Cớ chi em vội qua cầu Để ai khắc khỏai nỗi sầu biệt ly! Nhớ xưa lối nhỏ đi về Ngày ngày nắng trải đường quê ánh vàng. Tháng ngày hạ hết thu sang Thương nhau trên bến đò ngàng đợi chờ. Tình yêu ta đẹp như thơ Nặng lời minh thệ… minh mơ pháo hồng. Tròn duyên đẹp nghĩa vợ chồng Dù cho mòn núi cạn sông Bao nhiêu tang hải nhưng lòng chẳng phai! -Lời vàng… đâu thật lòng ai Thời gian chưa nhạt đã cay đắng rồi! Son hồng còn thắm viền môi Cớ chi sao vội qu ên lời ước xưa? 26-6-2026 4.2 Thôi Cố Tịnh Lòng Cớ sao nhan sắc hơn người Tài hoa vượt trội bạc đời hồng nhan Phải chăng trời bắt đa đoan Khiến cho hương lửa tắt ngang cuộc tình! Đâu còn vui cảnh ba sinh Lẻ đời cô phụ một mình giữa khuya Quạnh hiu mất lối đi về Hân ai quên mất hẹn thề ngày xưa! Chiều chiều gió hắt song thưa Đau hồn viễn mộng ngày xưa chập chùng Làm sao!?- Thôi cố tịnh lòng, Hướng về bến giác thôi mong chẳng chờ!!! 6-7-2026 4.3 Thuyền và Bến Thuyền ơi bến vẫn đợi chờ Dù cho mưa gió mịt mờ bốn phương. Thuỳền đi khuất bóng chiều sương Bến chờ năm tháng rưng buồn biệt ly. Thuyền đi cứ mãi thuyền đi Bao giờ mong đợi ngày về bến không? Mãi xa theo nước xuôi dòng Coi chừng sóng dữ long đong cõi ngoài. Tìm về bến lạ thuyền say Hoa tươi pháo đỏ trăng đấy suốt đêm. Bến xưa lặng lẻ âm thầm Dú cho mưa gió bao năm vẫn chờ!! 7-7-2026 4.4 Gánh Củi Lưu Đày Mặt trời đã lặn sau vách núi Quanh đây hiu quạnh gió ru buồn Ngõ qua khe suối chênh vênh quá Thăm thẳm đường xa.. .mấy đoạn trường! Dòng chảy mồ hôi thắm lạnh lưng Trên vai gồng gánh nặng vô cùng Trong tôi đã chết mùa xuân mộng Máu đỏ từ tim cũng muốn ngưng. Vĩnh Phú cũng là đất Việt Nam Mà sao biền biệt. ..rất xa xăm Ở đây cô quạnh đời lưu xứ Gian khổ từng đêm lệ đổ thầm! Nhớ lắm miền Nam tận cuối trời Bao người chờ đợi kẻ xa xôi Lưu đày năm tháng đời gian khổ Hôm sớm nhìn quanh chỉ núi đồi! Lần bước cũng về sân bãi trại Rời xa gánh củi nhẹ bờ vai Chao ơi một gánh lưu đày đó Thay gánh tang bồng ... lỡ kiếp trai.! 4.5 Gặp Lại Lâu quá giờ đây mình gặp lại Mái tóc anh sầu trắng như mây Mắt nhìn nhau cõi lòng khắc khoải Muốn nói nhiều nói được gì đầy?! Cuộc biển dâu đời mình tang hải Vì phong ba cách biệt phương trời Anh có biết bao lần em khóc: Biết anh còn sống,… chết?... xa xôi! Từng bước đi đường xa ngõ quạnh Chỉ mong tìm dấu vết người xưa Đêm đêm nhìn vì sao lấp lánh Hồn em mòn mõi biết bao mùa! Chiều nay ai xuôi mình gặp lại Dáng ngập ngừng không nói nên câu Trong cõi lòng em buồn muốn khóc Mi mắt anh đọng giọt lệ sầu! Mình đã lỡ đò về bến mộng Trên ngõ đời khuất bóng mùa xuân! Đâu dám cạn chén tình tương ngộ Đành rưng buồn trân trọng cố nhân! 4.6 Bến Xưa Tôi đứng chờ anh lạnh tứ bề Xa xăm có nhớ nẻo đi về Hay còn say đắm phù hư mộng Quên nỗi tình xưa lỗi hẹn thề! Tôi như bến sông đò lỗi hẹn Vội vàng bỏ bến trảy sang ngang Gió mưa vuì dập đời cô lữ Mắt lệ ngùi trông lúc nắng tàn! Lòng mãi thương hoài cố nhân ơi Như con én lẻ lạc bên trời Bơ vơ gọi bạn bừng cơn mộng: -Hãy trở về mau kết nghĩa đời! Bến xưa còn đợi chiếc thuyền xưa Mau trở về đi mộng chín vừa Đông hết… bến thuyền xuân hội ngộ -Giờ nầy anh tỉnh giấc hay chưa? 4.7 Tiếng Tơ Đồng (Nhớ đêm nghe Tiếng Tơ Đồng dạo khúc tương tư) Đàn ai đang dạo khúc tương tư Vẳng nỗi tình xa đã biệt mù Đôi mắt vẫn còn in cõi mộng Lạc đời nhớ mãi đến thiên thu! Một khối tình sầu cách núi sông Nhớ thương vương víu mãi tơ lòng Chập chờn lẻ bóng mơ tương ngộ Mịt mùng sương gió cõi mênh mông. Mãi ngát trong hồn hương dạ lý Người đang ẩn hiện giấc tương tư Đêm đêm dõi ánh viền trăng ngọc Tìm dấu người xưa cõi mịt mù! Cứ tưởng chân người vừa bước qua Ngờ đâu lá rụng động thềm nhà Tương tư hiu hắt hồn lưu lạc Canh cánh bên lòng người chốn xa! Cô đơn chiều bước giữa rừng thu Sương khói hoàng hôn tỏa mịt mờ Lại ngỡ dìu nhau về cõi mộng Gió rừng vi vút tiếng đàn thơ! Nhưng đó chỉ là mộng mị thôi Cố nhân xa biệt mãi bên trời Tương tư trong giấc sầu đêm lạnh Thương nhớ bao mùa lệ đắng môi! 4.8 Hạ Sầu Nắng hạ ơi cứ ươm vàng thương nhớ Biết bao giờ tìm lại nắng quê hương? ....... Mấy mùa qua rưng rức vạn nỗi buồn Còn đâu nữa sân trường hoa phượng đổ. Nhớ ai đó bước qua cầu bến hạ Tà áo xanh lất phất giữa trời trưa Dáng thong dong nghiêng nghiêng vành nón lá Bước nhẹ nhàng khua động cả hồn thơ. Đời học trò ngờ đâu đời sương gió Sau mùa thi mỗi đứa môt phương trời Kẻ tang bồng biên thùy phai áo trận Người sang sông nhung nhớ bạn bên đời! Nay bạc tóc lạc bước đường xa xứ Muốn gọi nhau đâu nói được nên lời Luôn ray rức nỗi sầu trong đáy mắt Mộng tương phùng, nay cũng rất xa xôi! Đường quê hương dặm dài xa tít tắp Ai chờ trông môi thắm chắc phai hồng Ta lữ thứ nắng hạ buồn héo hắt Tình hoài hương luôn khắc khoải trong lòng! Chuyện dâu bể tàn phai bao giấc mộng Mái trường xưa còn dấu… giấc chiêm bao Bạn bè xưa ai còn ai bỏ cuộc Như bèo mây trôi dạt biết phương nào!? 4.9 Ngậm Ngùi Tim tôi luôn thổn thức Không một phút ngủ vùi Năm tháng dài đăng đẳng Bao thương nhớ ngậm ngùi! Vườn nhà ai hé cửa Tôi chẳng dám xôn xao Ước như vài sợi nắng Vương vấn má hạnh đào! Phím đàn rung khe khẻ Nhạc lòng xưa chẳng quên Khiến mãi đời thổn thức Thuyền tình trôi lênh đênh! 4.10 Thoáng Bóng Mây Đàn ai trổi buồn đêm thao thức Hồn sầu theo sóng nhạc về xa Đau xót khoảnh đời trong ký vãng Hoa tình hương sắc đã phôi pha. Còn nhớ trong lòng nhau xa cách Dẫu nghìn trùng hay mãi thiên thu Ôi giọt lệ sầu từ vạn cổ Đến bây giờ còn vướng niềm đau! Người xưa bước qua đời hệ lụy Cũng ngậm ngùi từng cuộc chia ly Rưng lệ nhìn thu vàng lá đổ Đêm cô đơn dõi ánh trăng thề! Nay ai lạc đường tình mưa gió Trầm luân năm tháng cõi nhân sinh Vàng son rồi cũng phù hư cả Ôm mối sầu riêng, chỉ một mình! Thôi thì ví đời như cơn mộng Tình đến rồi đi một giấc buồn Thấp thoáng xa xa mờ nhân ảnh Mất còn hư thực cõi vô thường! Hãy thả nỗi sầu theo gió bay Nhân sinh ai đếm được bao ngày Xuân Hạ Thu Đông, năm tháng lụn Một kiếp con người thoáng bóng mây! Hàn Thiên Lương
Mục Lục


5. Tự khúc khum tay che gió chào ban sáng ấm môi đêm khói thuốc đầu ngày trống rỗng hồn ta lòng biển cạn đón điều sẽ tới kệ rủi may... ... cày cục đất người thèm quê mẹ hẹn lần hẹn lữa dợm chân đi mây ùn xa tắp thôi đành nhé bạt hồn bạt vía nỗi hoài nghi... ... lấy gì đong đếm buồn xa xứ bằng hữu tâm giao được mấy người. khóc cười che giấu niềm cô tịch vẽ mặt đóng tuồng trọn cuộc chơi... ... chén rượu đầu hôm còn váng vất nhớ trận mưa dầm góc phố xưa hồ trường thù tạc quên trời đất xa thẳm quay về lạc lối mưa năm. rồi tiếp nối bao năm nữa cố hương quay quắt nỗi hoài mong sương trắng, trăng đơn buồn song cửa bạc đầu thao thức chuyện đông phong... 07/2026.

khóc_cười
Mục Lục


6. Anh không trả được Không có nỗi buồn nào chỉ riêng em Khi chia tay anh cũng đầy nước mắt Dù trên cao bầu trời vẫn xanh ngắt Phố đầy người anh tưởng chốn hoang vu ! Nỗi buồn nầy anh không chia cho ai Cứ giữ kín, quí trân cho ngày gặp gỡ Vì em - người anh thật lòng thương nhớ Chỉ tại Ông Trời không kết tơ duyên ! Xin em đừng trách lỗi chỉ tại anh Con thuyền muốn đi phải nhờ cánh gió Cuộc sống tương lai chúng ta đâu bỏ ngõ Sao mình gắn kết mãi vẫn hoài công ? Còn điều em cho, anh không trả được Nước dưới sông kia không ngược về nguồn ! Nguyện cầu cho em gặp người tri kỉ Hạnh phúc tràn đầy và yêu em hơn anh !

Lê Miên Khương
Mục Lục


7. ƯỚC AO Ước gì anh nắm lấy tay em Một lần thôi em sẽ không quên Chắc hẳn là bàn tay anh ấm? Em sẽ run những ngón tay mềm Một lần thôi, dù chỉ vài giây Anh hãy hôn lên tóc em đây Khi anh hờ hững không trở lại Theo bước anh tóc em là mây Ước gì anh cùng đi với em Một đoạn đường thôi, trong hoàng hôn Em sẽ bảo thời gian dừng lại Để anh nhìn thấy mắt em buồn Em sẽ vì anh, em làm thơ Lòng em sẽ ướt lúc trời mưa Lòng em sẽ nhạt theo màu nắng Sẽ ngậm ngùi theo ánh trăng mờ Ước gì anh đến tìm gặp em Một hôm thế giới bỗng lặng im Một hôm em thấy mình hạnh phúc Nghe tim mình mơ chuyện nhân duyên

KIM LOAN
Mục Lục


8. Trở Về Tổ Cũ 1-Trở Về Tổ Cũ Diễn Đàn …… hôm nay tôi trớ lại Ngôi trường xưa,bạn cũ và đồng nghiệp thân thương Nơi tôi đã viết gần hai-trăm bài nhiều thể loai Kỷ niệm quá đủ đầy về sinh hoạt văn chương Diễn Đàn …… hôm nay tôi trớ lại Thân phận cội-mai-già đang độ tuổi hoàng hôn Còn gi nữa đâu cống hiến cho cuộc đời hiện tại Chẳng bao lâu tan biến thành cát bui hư vô Diễn Đàn …… hôm nay tôi trớ lại Với tinh thần buông bỏ như sắp để lệ tuôn rơi Nếu ngòi bút từ đây mang dấu vết gì hoang hoai Thì vẫn cùng nhau xây dựng tổ ấm đầu đời. May 16.26 (721) 2-Xích Bích Hoài Cổ * Source: Thi Vien Xích Bích hoài cổ 赤壁懷古 Đỗ Mục 赤壁懷古 折戟沉沙鐵未銷, 自將磨洗認前朝。 東風不與周郎便, 銅雀春深鎖二喬。 Xích Bích hoài cổ Chiết kích trầm sa thiết vị tiêu, Tự tương ma tẩy nhận tiền triều. Đông phong bất dữ Chu lang[1] tiện, Đồng Tước[2] xuân thâm toả nhị Kiều[3]. Dịch nghĩa Mũi kích gãy nằm trong cát, sắt chưa mòn hết, Tự tay mình mài rũa, đã nhận thấy dấu vết triều đại vừa qua. Gió đông ví không thuận tiện cho chàng Chu Du, Thì cảnh xuân thâm nghiêm của đài Đồng Tước đã khoá chặt hai nàng Kiều. Xích Bích là một khúc sông trên Trường Giang thuộc tỉnh Hồ Bắc. Đời Tam Quốc, nguyên soái Chu Du nhờ gió đông nổi lên mới dùng hoả công đốt cháy các chiến thuyền của Tào Tháo. Bản dịch của Trần Trọng San Giáo chìm, sắt vẫn còn trơ, Rửa xem nhận biết triều xưa rõ ràng. Gió Đông không giúp Chu Lang, Khóa xuân Đồng Tước đã giam hai Kiều. Bản dịch của Phan Kế Bính Dưới cát gươm chìm, sắt chửa tiêu Giũa mài nhận biết việc tiền triều Gió đông nếu chẳng vì Công Cẩn Đồng Tước đêm xuân khoá nhị Kiều! Bản dịch của Trần Trọng Kim Mũi giáo gãy còn vùi dưới cát Mài rửa đi, nhận vết tiền triều Gió đông chẳng giúp thuận chiều Trong đền Đồng Tước hai Kiều khoá xuân Bản dịch của Ngô Tất Tố Chìm sông, kích sắt chưa tiêu, Rửa mài, nhận dấu tiền triều ở trong. Chàng Chu mà thiếu gió đông, Hai Kiều đã khoá đền Đồng vui xuân. * Xích Bích Hoài Cổ(phỏng dich Xích Bích hoài cổ / Do Muc) Mũi kích gãy chưa mòn nằm dưới cát Rửa sach nhìn hiện dấu các triều xưa Gió Đông cản thuyền Chu Du đi Đồng Tước Giải cứu Nhị Kiều bị giữ tai phòng Xuân Jan.11.26 (712)

Chinh/Hong Nguyen-HNT
Mục Lục


7. Nhìn Pháo Hoa Nhớ Mẹ 7.1 Nhìn Pháo Hoa Nhớ Mẹ thơ nhạc Chương Hà Suno AI hổ trợ pps Nhật Thụy Vi Xem video trên YouTube 7.2 Vỗ Về thơ nhạc Chương Hà -Suno pps Nhật Thụy Vi Xem video trên YouTube 7.3 Nỗi Niềm sáng tác Tuấn Khanh. trình bày Chương Hà karaoke Dũng Tiến kỹ thuật Cinematic video Sondo AI upload youtube Nhật Thụy Vi Xem video trên YouTube

Thơ Chương Hà
Mục Lục

II . Văn___________________________________________________________

1. HÂM NÓNG TÌNH GÌA 

Nguyễn Thị Thanh Dương


Chị Bông gởi tâm sự cho chị Ngân Bình phụ trách mục “Tình Chàng Ý Thiếp” của một tuần báo. Chị than thở chuyện tình cảm hai vợ chồng già nhà chị lúc nào cũng xung khắc cãi nhau. Ông ấy lát gạch vườn sau chỗ cao chỗ thấp làm chị Bông vấp ngã mấy lần đã không biết điều xin lỗi còn mắng vợ xớn xác. Chị Bông tiết kiệm ngân quỹ gia đình, ở nhà chuyên mặc đồ thừa của con gái thì ông ấy nói quần áo ngắn cũn cỡn, váy màu mè xanh đỏ như bà đồng bóng ... Chị Ngân Bình khuyên rằng tình vợ chồng bao năm đã cũ mòn rồi, như nồi phở để nguội mất ngon chị cần phải hâm nóng lại. Chị Bông bèn mạo muội gọi phone chị Ngân Bình để nghe lời khuyên cụ thể hơn: - Hâm nóng tình già cách nào hả chị? Chị Ngân Bình giải thích: - Chị hãy làm một chuyến đi xa, nhân dịp này vừa thăm con cháu vừa tạo khoảng cách cho ông chồng chị cảm thấy trống vắng, thương nhớ chờ mong. Chị Bông lo lắng: - Nhưng kết quả ngược lại là chị…chịu trách nhiệm đó nha.. Đến lượt chị Ngân Bình lo lắng: - Ủa, tôi đã giúp chị lời khuyên mà còn chịu trách nhiệm là sao?? - Tôi thấy mấy ông già vắng vợ, xa vợ dễ ngã lòng lắm, chồng tôi được tự do một mình lỡ ông ấy ra vào mấy quán cà phê đèn mờ có mấy cô tre trẻ phục vụ thì tình vợ chồng nhà tôi chẳng hâm nóng mà cháy khét luôn đó. Chị Ngân Bình tự tin: - Tưởng gì. Bao năm qua chồng chị vẫn ngoan hiền thì làm gì dám “đổi đời” ghê gớm thế… ********** Chị Ngân Bình nói đúng, có lẽ tình vợ chồng mấy chục năm đã cũ mòn, đã giết chết tình yêu thuở thanh xuân nên người ta đối đãi với nhau không cần gìn giữ, không cần làm đẹp lòng nhau nữa. Đằng nào cũng là vợ là chồng, xung quanh vòng vây nào con cháu, nào tài sản tiền bạc, nào đạo lý, thân nhân họ hàng, bè bạn gần xa, những sợi dây vô hình buộc chặt cuộc đời họ bên nhau khó đứt lìa. Chị Bông thèm được chồng trân trọng qúy mến, thèm được chồng nâng niu yêu thương như thuở ban đầu, cái tình cảm đã mất đi từ lúc nào không hay sau mấy chục năm chồng vợ khi tuổi đời chồng chất. Nhất định chị sẽ hâm nóng lại tình gìa nguội lạnh theo lời khuyên của chị Ngân Bình, tình cũ sẽ làm cho mới lại, chị sẽ “đi xa” một khoảng thời gian để anh Bông thấy vợ là cần thiết. Chị tuyên bố cho chồng bất ngờ xem phản ứng anh thế nào: - Em sẽ đi tiểu bang California thăm con gái và cháu ngoại. Anh chẳng ngạc nhiên, chẳng “xót xa” vì vợ sắp đi xa mà còn hào hứng tán thành: - Phải đấy, phải đấy, bà nhớ con nhớ cháu muốn đi thì cứ việc đi. Chị Bông chạnh lòng nghĩ thầm : “Đã thế tôi sẽ đi thật lâu cho ông biết thế nào là …tình xa nhé”. Chị mua vé máy bay đi California 2 tháng. Anh Bông vui vẻ chở vợ ra phi trường và dặn dò: - Nếu tôi…quên thì gần ngày về bà phone nhắc tôi ra phi trường đón nha. Trời ơi, thì ra chồng chẳng chờ mong ngày vợ về sao? Ai lại có thể quên ngày đoàn tụ nhỉ? Chị Bông tưởng lúc chia tay sẽ bịn rịn lưu luyến. Nhưng anh Bông luôn miệng giục gĩa: - Bà vào trong sớm đi cho thoải mái. Rồi anh Bông hăng hái xách phụ vợ cái túi xách khi chị đứng xếp hàng chờ kiểm hành lý. Cứ làm như anh muốn tống một của nợ đi cho khuất mắt. Chỉ có gia đình con gái là bất ngờ thôi. Con gái đón chị Bông về nhà và phân bày: - Mẹ đột ngột đến thăm, con vội sửa soạn phòng không biết có thiều sót gì không? - Mẹ muốn làm…bất ngờ cho con cháu vui mà, mẹ nhớ con cháu qúa nên đến thăm và ở hai thàng đấy. Con rể cảm động: - Thật vui khi có mẹ đến chơi, các cháu sẽ tha hồ vòi vĩnh bà kể chuyện và nấu nướng món nọ món kia. Thế là một công đôi việc, vừa thoả lòng thăm con cháu chị Bông vừa tạo không gian khoảng cách xa nhà để nơi kia chồng sẽ nhận ra vắng mụ vợ gìa cũng trống trải biết bao. Nhưng ở với con cháu mới được 5 tuần lễ chính chị Bông đã cảm thấy nhớ nhà, nhớ tất cả những gì liên quan đến đời sống quen thuộc hàng ngày của mình, chị nhớ khu phố mình ở, nhớ cả chợ búa thường đi mỗi cuối tuần. Chị Bông bảo con đổi vé máy bay về nhà sớm. Chị quyết định không báo cho chồng biết, chị lại muốn chồng bất ngờ, 5 tuần lễ xa nhau đủ cho chồng thấm thía nhớ thương. Về đến phi trường chị Bông hồi hộp và sung sướng gọi taxi chở về nhà. Căn nhà thân yêu đây rồi, chị tưởng tượng khi cánh cửa mở ra chồng sẽ mừng rơn ôm chầm lấy vợ, chị sẽ cảm động rưng rưng nói một câu nũng nịu tình tứ: - Em nhớ anh nên về sớm đó. Anh có nhớ em không? Anh sẽ như ngày xưa lãng mạn ngọt ngào nói một câu đã xem trong phim ảnh hay đọc được trong tiểu thuyết: - Những ngày không em đời anh là hoang vu sa mạc. Nhưng không, anh Bông đứng sững sờ nơi cửa không thốt nên lời. Chị Bông phải lên tiếng: - Anh kinh ngạc và chết lặng như vừa thấy người từ cõi chết trở về vậy hả ??. Em, Bông đây mà, Bông của anh đây mà. Bây giờ anh mới…hồi tỉnh và hỏi một câu vô duyên: - Sao bà về sớm thế ? Chị Bông chưa kịp đáp anh thêm câu vô duyên khác: - Đi thăm con cháu thì ở lại vài tháng cho đã đời đi. Về làm chi… Chị Bông biết tính “ăn ngay nói thẳng” của chồng, xưa nay nghĩ sao nói vậy không hình thức bề ngoài cho vừa lòng vợ nhưng chị vẫn cụt hứng. Nhìn nét mặt của chồng chị Bông nghi ngờ: - Anh sao thế? Nhìn mặt anh như chưa tỉnh một cơn mê, cứ làm như em có tội với anh khi bất chợt về nhà sớm vậy đó. - Chứ còn gì nữa. … - Trời ơi…anh có chuyện gì mờ ám hả? hả? - Tôi đang nghe những bản nhạc tình Bolero, bà về không đúng lúc. Bây giờ chị Bông mới để ý lắng nghe tiếng nhạc vọng ra từ trong phòng, giọng Hoàng Oanh đang tha thiết năn nỉ ỉ ôi: “ Chỉ hai đứa mình thôi nhé…đừng cho trăng nép sau hè…chỉ hai đứa mình thôi nhé…trần gian thanh vắng tứ bề….” Chị Bông gắt: - Nhạc gì thì cũng là nhạc, liên quan gì đến chúng ta ? - Có chứ. Bà bình tĩnh đừng tưởng tượng qúa xa xôi, nghe tôi nói những lời chân thật từ đáy lòng đây. Nhờ bà đi vắng dài hạn tôi bỗng như anh chàng trẻ tuổi độc thân, chẳng nấu nướng gì cả, cơm hàng cháo chợ mà bà vẫn chê bai toàn là gia vị độc hại, bột ngọt, dầu mỡ muối đường không tốt cho sức khỏe ấy, nhưng lạ và ngon khác với cơm bà nấu. Tôi đã có những ngày tự do thoải mái, muốn ăn gì thì ăn, đi đâu thì đi, làm gì thì làm mà không sợ bị bà xía vô hạch họe cấm cản hay liếc dọc liếc ngang vào ra lẩm bẩm. Lúc nào rảnh nằm nghe những bản nhạc tình cảm Bolero tâm hồn tôi lãng mạn, ướt át chơi vơi cảm xúc. Đang mơ màng thế cho nên thấy bà đột ngột trở về, đứng lù lù nơi cửa tôi không…giật mình sao được. Chị Bông giận hờn: - Em hiểu rồi, thì ra anh đang quay về lứa tuổi hai mươi thương nhớ vu vơ đấy… “Chỉ hai đứa mình thôi nhé” bảo đảm là không có hình bóng của em, vì người ta chỉ thương nhớ những gì đã mất, còn những thứ đã đạt được trong tay như em đây có đi xa, đi vắng hay…tiêu đời luôn càng tốt phải không anh? Anh Bông chẳng thèm dỗ dành vợ mà tỉnh bơ nói tiếp: - Thí dụ…ngày đó tôi không lấy được bà thì bà mãi mãi là người trong mộng của tôi.Tình yêu thời tuổi trẻ và tuổi gìa khác nhau xa, ngày xưa hai chúng mình cứ nôn nóng đòi làm đám cưới gấp, một ngày không có nhau là một ngày hoang phí. Nhưng bây giờ có khi vắng xa nhau một ngày là một ngày dễ chịu, dễ thương. … Anh xuống giọng tràn đầy tình cảm: - Cám ơn bà đã vắng nhà mấy tuần cho tâm hồn tôi trẻ lại. Tóm lại lâu lâu mình cũng cần “chia xa” cho…. tình gần nhau hơn. Chị Bông khen: - Em mới đi vắng vài tuần mà anh đã ảnh hưởng Bolero quá chừng, ăn nói lãng mạn hẳn ra. Có xa cách mới biết nhớ thương nhau, đó là mục đích của em, em sợ tình nguội lạnh nhạt phai nên đã hâm nóng tình gìa, tình cũ của chúng mình. Coi như em vắng nhà là đã tặng anh một giấc mộng thanh xuân, tuy ngắn ngủi nửa vời.. - Giấc mộng nào chẳng dở dang nửa vời, có bao giờ chúng ta ngủ mơ đầy đủ một câu chuyện đâu. Có bà bên cạnh là tôi trở về thực tế rồi, bây giờ tôi có nghe thêm hàng trăm bài nhạc tình Bolero mùi mẫn cũng chẳng chạnh lòng nổi, chẳng mộng mơ nổi. Để tôi đi tắt nhạc và chiều nay tôi khỏi lái xe đi ăn cơm tiệm, bà nấu gì tôi ăn nấy. Chị âu yếm nói với chồng: - Hôm nay em sẽ nấu cho anh một bữa cơm ngon sau 5 tuần lễ xa nhà nhưng không phải chỉ bằng thịt cá rau củ gia vị hành ngò. Đố anh biết là món gì?? Anh Bông tươi cười: - Bà làm như bà là cô giáo và tôi là thằng học trò nhỏ của bà để bà “đố vui để học” hả. Tôi nghe bà nói hàng trăm lần rồi, bà nấu bằng tất cả tâm tình của bà chứ gì. Tôi hiểu bà từ đời nào, cũng như bà đã hiểu tôi từ kiếp nào. Cám ơn bà đã hâm nóng tình gìa, tuy cũ mòn theo thời gian nhưng nó vẫn còn đấy đi đâu mà mất. (March 20, 2019)

Nguyễn Thị Thanh Dương

Mục Lục


2. JULY 4TH KỂ CHUYỆN: MỸ NÓI LÀ LÀM

KIM LOAN


Một mùa hè của những năm trước, trong chuyến thăm gia đình ở Arlington, Texas, tôi theo chị tôi đi chợ Hongkong. Đang loay hoay lựa trái mít, có một chú người Việt Nam đứng bên hàng rau quả nhìn tôi chằm chằm, rồi tiến lại phía tôi: - Cô là cô Loan, ngày xưa ở trại tỵ nạn Thailand ? Tôi nhìn chú, không ngạc nhiên lắm, vì ở Mỹ hay Canada, thỉnh thoảng tôi cũng có gặp lại người tỵ nạn ngày xưa, rồi nhận ra nhau sau thời gian dài xa cách. Giống như những lần khác, khi không nhớ ra người đối diện, tôi vẫn mỉm cười: - Dạ, đúng rồi chú! Chú tên gì, ở khu nào, nhà nào? Chú nhoẻn miệng cười: - Vậy là cô không nhận ta tôi rồi! Tôi là Hiếu, ở lô E cạnh lô D của cô, có lần cô và mấy cô bạn chung nhà nhờ tôi đến bít cái ổ chuột trong góc nhà cô đó! - Ôi, con nhớ ra rồi, chú Hiếu “handy man” thường giúp đỡ bà con những chuyện “nhà cửa” trại tỵ nạn đây mà! Chú thứ lỗi cho con, lâu quá rồi, con chẳng nhớ rõ… Chú Hiếu cười xoà, dễ chịu: - Cô không nhớ tôi là chuyện đương nhiên, nhưng chắc chắn là nhiều dân S1 Panatnikhom phải nhớ cô, vì cô phát thư trên bưu điện mà. Dù quen hay không quen, dù thương hay không thương cô, ở trại ai cũng đều phải lên đó… nhìn mặt cô hết á! Tôi cười lớn: - Cám ơn chú đã nhớ… cái mặt của con, nhà chú ở Arlington này hả? - Không, tôi ở Houston, xuống đây chơi với gia đình em vợ, họ đang lựa catfish trong kia, cô có rảnh thì nói chuyện với tôi chút nhe, mà cô định cư ở đây hồi nào đến giờ? - Con ở Canada chú ơi, nhưng gia đình, họ hàng con bên đây đông lắm. Còn chú, con nhớ là hồi đó chú rớt thanh lọc, vậy chú qua Mỹ diện gì, qua lâu chưa? Chú gật gù: - Gia đình tôi qua đây theo diện ROVR. (Resetlement Opportunity For Vietnamese Returnees) đó cô! Phải nói là phước đức ông bà để lại, nên gia đình tôi may mắn, đăng ký hồi hương theo lời kêu gọi của phái đoàn Mỹ. Rồi chú kể, những ngày tháng ở trại nặng nề, u tối, khi mà tất cả người rớt thanh lọc cương quyết bám trụ, chiến đấu chống cưỡng bách hồi hương, với khẩu hiệu “Tự do hay là chết!”. Khoảng giữa năm 1994, phái đoàn Mỹ vào trại, nói chuyện với mọi người với những câu “chơi chữ” rất thấm thía và cảm thông: “ Chúng tôi biết quý vị đã bỏ quê hương qua trại tỵ nạn, sẵn sàng MẤT tất cả vì hai chữ tự do, và nay kiên quyết không hồi hương vì sợ MẤT mặt! Chúng tôi xin hứa, nếu quý vị trở về trong giai đoạn này, chúng tôi sẽ giúp quý vị định cư ở Hoa Kỳ”. Nhưng lúc ấy, nhiều người còn nghi ngờ thiện chí của Mỹ, sợ rằng đó chỉ là chiêu bài giúp Cao Uỷ dẹp trại tỵ nạn, nên không phải ai cũng lên đăng ký hồi hương, và nhiều người tuyên bố ở lại đấu tranh cho đến cùng. Tôi hỏi chú Hiếu: - Vậy là chú về đúng thời điểm phái đoàn Mỹ yêu cầu? - Lúc đó tôi hoang mang dữ lắm. Vợ tôi cũng nản, bả nói tội cho ba đứa con tuổi ăn tuổi lớn, sẽ ở trại cho tới bao giờ, trong khi người ta rỉ tai nhau, biểu đừng hồi hương, coi chừng mắc bẫy. Cuối cùng, tôi quyết định, phải liều lần nữa, nghe lời phái đoàn Mỹ, đi về, nếu may mắn thì được đi, còn không thì trở lại như hồi chưa vượt biên, tới đâu hay tới đó. - Và chú đã gặp may! Chú Hiếu mắt lấp lánh vui: - Quả thật, Mỹ nói là Mỹ làm cô ạ, chớ không tráo trở lật lọng như bọn cộng sản Việt Nam, nói một đằng làm một nẻo. Mỹ đã kêu phỏng vấn tất cả những người ra về trong dịp này, có người qua trại một mình, về nhà được kéo theo cả vợ con đi luôn, sướng thiệt là sướng. Nhiều người về trước thời hạn hoặc sau thời hạn, nghe tin cũng kéo lên xin đi, mà Mỹ dứt khoát không cho. Mỹ là thế đấy, hứa là làm, và làm thì đúng luật, trước một ngày và sau một ngày cũng phải chịu thua. Tôi cũng vui lây: - Con cũng chúc mừng gia đình chú đã đạt được ước mơ. Giờ cuộc sống gia đình chú ổn không? - Không phải ổn mà là rất ổn. Hồi mới qua, vợ chồng tôi về vùng Liberal, Kansas làm hãng thịt bò, rồi dọn về Houston để tiện cho con cái học hành. Nói để cô mừng, các con tôi hai đứa tốt nghiệp Cao Đẳng, đứa xong Đại Học, lập gia đình đuề huề, nhà cửa công việc êm xuôi. Nói thiệt, tôi mang ơn nước Mỹ vô vàn, vì nếu còn kẹt lại Việt Nam, thì đến đời con đời cháu tui cũng còn chưa thoát nghèo đói, bất công. Gia đình tôi đúng là từ địa ngục đã được chính phủ Mỹ đưa lên thiên đàng. Tôi nghe chú nói mà hưng phấn theo từng lời của chú. Tôi chưa gặp ai tỏ lòng tri ân quê hương thứ hai của mình một cách tràn đầy, hãnh diện như chú. Nhân tiện vài ngày sau đó vợ chồng tôi đi New Orleans, Louisiana sẽ ghé qua Houston, chú mời chúng tôi đến thăm nhà, rồi đãi bữa buffet Việt tại nhà hàng Kim Sơn . Từ đó, tôi và chú giữ liên lạc qua phone, thỉnh thoảng nhắn tin qua lại, chúc mừng những dịp lễ lớn trong năm như Thanksviving, Giáng Sinh, Tết Ta. Vậy mà mới tuần qua, chú Hiếu bỗng phone cho tôi: - Cô Loan có đang xem World Cup không, tôi cứ tưởng cô sẽ bay qua Texas để xem cùng gia đình chớ! Kỳ này ba nước Bắc Mỹ tổ chức chung, nhưng đa số các trận đều ở bên Mỹ, hay là cô tính xem bên Canada ủng hộ đội nhà? - Dạ tụi con cũng đã từng dự định xem cả bên Mỹ và Canada luôn đó, nhưng phút cuối có việc đột xuất nên không qua đó chú ơi! - Tôi nhớ ở trại cô mê World Cup, đêm nào cũng đi xem, mùa World Cup Italy 1990, cô còn nhớ không? - Làm sao con quên được, hầu như đêm nào nhóm tụi con cũng đi xem, có khi xem cả hai trận, đến 4 giờ sáng, về ngủ được vài tiếng phải dậy đi làm, rồi cũng có “cá độ” dù chỉ là những gói mì MaMa, ôi những kỷ niệm “ngày và đêm xôn xao” World Cup vui quá chừng . - Hồi đó ở trại, thông tin về các đội bóng không có, mỗi sáng tụi tôi phải đứng chờ ở phòng bưu điện nơi cô làm thiện nguyện, chờ bà boss người Úc đem tờ báo Bangkok Post vào, mấy anh em bưu điện đọc tin mục thể thao, rồi ra kể cho chúng tôi nghe diễn biến, để tối đi xem thêm phần hào hứng. - Chú nhớ dai thiệt ! Vậy kỳ này chú có đi xem ở sân Houston không? - Tuổi lớn rồi, tôi xem ở nhà, nhưng con trai tôi và cháu nội có đi xem, chúng bảo đã lắm, đáng đồng tiền bát gạo lắm. Tôi tự hào về nước Mỹ, sân bóng nào cũng to lớn, tối tân, hiện đại, đông kín khán giả. Nghe dân Châu Âu qua đây xem World Cup khen nước Mỹ nức nở, tôi cũng nở lỗ mũi. Chú vẫn tuôn trào cảm xúc: - Tại vì cô có gia đình bên Mỹ nên tôi mới dám nói hết cảm tưởng, chứ khi nói chuyện với mấy người tỵ nạn cũ nay ở Úc, Canada tôi đâu dám nói như thế, sợ họ tự ái, mặc dù tôi biết Mỹ, Canada, Úc đều là những nước tư bản tự do giàu có, nhưng tôi là công dân Mỹ nên tôi khoe nước Mỹ của tôi chút xíu, cô nhỉ! - Đúng vậy, hổm rày tin tức tràn lan khắp nơi, chuyện bên lề World Cup, cổ động viên khắp thế giới đổ về, họ thích thú ngạc nhiên và bất ngờ khi tận mắt chứng kiến nước Mỹ, khác với những gì họ “nghe nói” và tưởng tượng. Họ khen ngợi nước Mỹ rộng lớn, giàu có, hiện đại, thức ăn ngon rẻ, nhà vệ sinh tiện lợi khắp nơi, họ trầm trồ khi bước vào Costco, các cây xăng, các cửa hàng, người dân thân thiện hiếu khách. Dù sao đi nữa, nước Mỹ vẫn xứng đáng là quốc gia hàng đầu thế giới. - Bởi vậy bữa nay tôi muốn nhắc lại câu nói của tôi ngày nào, “Mỹ Nói Là Làm” trong chuyện bóng đá. Xưa nay Mỹ không có tiếng tăm về bóng đá, nhưng sau khi Mỹ đăng cai World Cup 1994 thì tình hình đã đổi khác, nước Mỹ quyết chí đầu tư vào bóng đá, và kết quả năm nay, đội bóng Mỹ có nhiều tiến bộ, ở vòng Bảng thắng giòn giã hai trận đầu, đứng đầu bảng tiến vào vòng 32 đội, tôi tin đội Mỹ sẽ còn tiến xa hơn nữa trong World Cup này. “Mỹ Nói Là Làm” là thế đấy. À, quên nữa, nếu cô qua đây dịp Lễ Độc Lập July 4th, năm nay là 250 năm nước Mỹ, sẽ vui lắm. Phải nói là nước Mỹ được đăng cai World Cup rất đúng “ngày lành tháng tốt”, cả thế giới sẽ chứng kiến niềm tự hào, yêu nước của dân tộc và người dân Mỹ Quốc. - Dạ, con đã từng đón Lễ Độc Lập Mỹ ở Texas, California, và Hawaii. Cũng giống như bên Canada, chiều tối cả gia đình ra ngoài sân garage làm tiệc BBQ, uống bia, thỉnh thoảng nghe tiếng pháo bông rộn ràng đâu đó, rồi chờ đến giờ đi xem pháo bông chính thức. Cảm giác thật là tuyệt vời, đầy lòng tri ân với quê hương thứ hai, phải không chú? - Cô nói tôi mới nhớ, Canada cũng mừng Quốc Khánh tháng 7 giống Mỹ phải không? - Chính xác Canada Day là July 1st đó chú, nhưng năm nay Canada chỉ mới 159 tuổi thôi hà, còn thua Mỹ gần cả trăm năm. - Tiếc quá, nếu cô qua Mỹ đón Lễ Độc Lập 250 năm của Mỹ, tôi rất hân hạnh được mời cô đến Houston dự Thánh Lễ và tiệc kỷ niệm 50 năm ngày cưới của vợ chồng tôi, và nhân tiện mừng đứa cháu ngoại của chúng tôi vừa được nhận vào học Y Khoa . - Trời! Chúc mừng chú và gia đình, hình như Lễ Độc Lập năm nay là… dành riêng cho gia đình chú thôi á! Tiếng chú cười sảng khoái, hạnh phúc xen lẫn tự hào, và trước khi cúp phone, chú vẫn không quên chúc tôi: - Thôi thì không gặp nhau kỳ này, tôi cũng xin chúc …ké “Happy 159 Birthday Canada” của cô nhé! - Dạ, và chúng ta cùng chúc nhau mùa World Cup, Independent Day, Canada Day vui vẻ! Edmonton, Tháng 7/2026

KIM LOAN

Mục Lục


3.Ký Sự Hà Giang

Thanh Hà


1/- Ngày 19.04.2022 Hà Giang buổi sáng nắng vàng rực rỡ, ấm áp báo hiệu một ngày đẹp. Chả bù hôm qua dù không lạnh, 22 độ C nhưng mưa cả ngày lúc nhiều lúc ít. Núi chập chùng núi, rừng tiếp nối rừng. Gió thổi thốc rất mạnh xe chỉ nhích với tốc độ 10–20 km. Có những đoạn đường hai bên là ngọn đồi nhỏ đất màu đỏ thắm –tôi dốt về địa chất, chỉ đoán là đất bazan– mưa nhiều nên đất bị sụt lỡ đổ xuống lòng đường chắn lối, thêm vào công trình đang làm đường xá, mấy xe ủi xúc đất chạy tới lui nên con đường lầy lội nhão nhoét ổ gà ổ voi to tướng rất nguy hiểm. Phải chạy thật cẩn thận, kẻo nguy cơ chao nghiêng té nhào vào đống bùn đỏ. Tôi không ghi nhớ hết địa danh mình đã đi qua hoặc nhớ không theo thứ tự. Cái nhìn tổng quát thì quang-cảnh-thiên-nhiên nơi nào cũng đẹp, hùng vĩ, trữ tình đúng câu “non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ”. Chúng tôi ăn sáng xong tìm mua nước uống, mấy hộp xôi các loại: gấc, cẩm, đậu xanh nhìn rất bắt mắt kèm thịt chà bông (người Bắc gọi là ruốc), trứng cút, thịt chiên, saucisse -tức xúc xích- tôi không hảo nên dặn họ đừng cho vào phần của tôi. May sao có một gian hàng bán mía ghim tức mía chặt từng lóng nhỏ đựng trong bịch, nên mua vài bịch. Từ Hà Giang tới Đồng Văn 150km, mang thức ăn theo yên tâm không sợ đói khát nếu lỡ không tìm được quán ăn vừa ý. Chỉ tội Vĩnh An vốn ghiền cà phê nhất là buổi sáng, thiếu chất đắng này thì cháu không được sảng khoái huống chi để bắt đầu ngày mới cho chuyến hành trình dai dẳng lê thê. Mấy hôm nay sáng nào cháu cũng cảm thán chuyện không tìm được nơi bán cà phê. Lạ là các quán ăn chỉ phục vụ thức ăn quanh đi quẩn lại phở, bún chả, xôi, nước đóng chai, coca cola, vài loại nước tăng lực, may lắm có quán bán cà phê bột gói hoà tan. Tìm một ly cà-phê-hạt-thật-sự-pha-bằng-máy cũng hiếm như tôi tìm bánh mì vậy. Hình như dân ngoài ấy không có thói quen ngồi quán nhâm nhi thưởng thức cà phê như dân miền trong, họ đến quán ăn xong là đi ngay. Nên gần phân nửa chuyến đi, hai dì cháu kẻ ao ước cà phê, người mơ tưởng bánh mì như thể sống ở đầu thế kỷ 20. Ngược lại với đàng trong, từ thành thị đến nông thôn, từ đại lộ mênh mông đến ngõ ngách nhỏ hẹp nơi nào có cư dân là nơi đó có quán cà phê, bánh mì thì không chỉ trong tiệm mà người ta còn đẩy xe đi bán dạo. Trước công viên Rạch Sỏi nơi sáng nào không có tiết học, cháu nội của chị ba 15 tuổi hay chở tôi trên chiếc xe đạp điện đến tập thể dục, có gánh bánh mì thịt của người phụ nữ đặt trước cổng, bà bán đắt không kịp nghỉ tay đến nổi chỉ đủ thời gian xẻ chiếc bánh gắp thịt rau ngò ba tê dưa chua ngọt đặt vào, người chồng tiếp chan nước sốt gói giấy cột dây thun trao bánh và nhận tiền khách mới kịp. Dù đựng bánh trong gánh ngồi trên nền đất nhưng giá không hề rẻ, cũng tương đương như trong tiệm. Tôi hay mua mang về nhà thưởng thức bánh giòn đúng khẩu vị ngon tuyệt vời. Cột mốc KM 0– Hà Giang Trước khi rời Hà Giang, “mấy đứa nhỏ” kêu ngừng lại trung tâm thành phố, đường Nguyễn Trãi nơi xây cột mốc KM 0 và gần đó thêm một cột mốc bằng đá nguyên khối cao lớn, cạnh bờ sông Lô. Đây là nơi du khách không thể bỏ qua khi đến Hà Giang nếu muốn lưu ảnh kỷ niệm, một số người lần lượt chờ. Đến phiên dì cháu sau khi loay hoay chọn thế đứng, chụp nhiều kiểu xong định đi thì nghe tiếng nói: —Chị ơi, em hỏi chị điều này, bạn em muốn xin phép chị cho nó được chụp ảnh chung với chị cạnh cột mốc, chị có đồng ý không ? Tôi ngó quanh quất, không hiểu ai nói với ai. Một cậu trai trẻ đứng đối diện cách tôi 3 mét – tự nảy giờ bận làm duyên làm dáng không để ý thấy- đang nhìn về hướng chúng tôi, tay cầm điện thoại, miệng mĩm cười thân thiện. Thoạt đầu tôi tưởng cậu ấy nói với Trang hoặc bé ốc tiêu vì cậu ấy gọi “Chị”–tôi mà còn được trai trẻ đáng tuổi con cháu gọi bằng Chị ư, chắc nhìn lầm–nên không trả lời ngay sợ mừng hụt bị hố, quay ra sau lưng tìm hai cô gái thì chả thấy cô nào ở gần hết. Ngó lại, thấy ánh mắt cậu vẫn nhìn tôi chờ đợi, vậy đích thị là nói với tôi rồi. Nhưng để chắc ăn, tôi ra dấu lấy tay chỉ vào mình, chưa kịp lên tiếng thì cậu hiểu ý lập lại : —Vâng, là em đang nói với chị. Bạn em xin phép được chụp ảnh chung với chị đó ạ. Cậu đưa tay chỉ sang một thanh niên đứng rụt rè cách đó 2m. Tôi hơi bất ngờ với lời đề nghị nầy nhưng cũng cười gật đầu đồng ý. A, không phải một mà tới bốn chàng thanh niên lận, trong lứa tuổi hai mươi mấy, bước đến cạnh tôi cho người bạn đạo diễn sắp xếp, tôi đứng giữa mỗi bên hai chàng. Chụp xong một kiểu, cậu ấy kiểm hình gật gù vẻ hài lòng rồi kêu các bạn thay đổi vị trí, xin tôi chụp thêm vài kiểu nữa, thái độ lễ phép lịch sự. Xong cậu cám ơn tôi, từ giã ai đi đường nấy. Nhóm năm người, chỉ mỗi cậu nói chuyện với tôi toát vẻ năng động, còn bốn cậu kia im re dáng chất phác rụt rè. Nghĩ cũng lạ, đáng lẽ mấy chàng trai trẻ này yêu cầu chụp chung với hai cô cháu gái cùng thế hệ nhau chứ, sao lại muốn chụp cùng tôi nhỉ. 2/- Gần trưa, đến một thị trấn- tôi quên ở đâu rồi- thấy một cái quán nho nhỏ xinh xắn, mặt tiền lấp toàn kính trong suốt nhìn rõ nội thất. Trước cửa quán chưng một chậu địa lan hoàng hậu thật to cả trăm đoá hoa nở rủ thướt tha như chào mừng mời mọc quí khách. Họ vẽ bảng Yến Ngọc Coffee to tướng, tôi khều Vĩnh An: —Có quán bán cà phê kìa Vĩnh An. Vĩnh An quay đầu xe lại, vui vì tìm được quán cà phê thực thụ lần thứ nhì - một lần chúng tôi gặp quán cà phê giải khát rất thanh lịch ở thị trấn nào đó cũng quên mất, giờ là lần thứ nhì - chúng tôi dắt xe đưa lên hàng hiên. Mở cửa kính bước vào trong, làn không khí từ máy lạnh toả mát mẻ dễ chịu. Cậu chủ quán ngồi sau quầy đứng lên chào lịch sự. Có cái máy pha cà phê inox đặt trên quầy, Vĩnh An mừng quá gọi ngay một ly cà phê đá, nhấp thử một ngụm, hài lòng khen cà phê ngon, vì mấy hôm nay toàn uống cà phê bột hoà tan. Chắc ở rải rác các tỉnh cũng có quán cà phê thực thụ nhưng tập trung ở thành phố lớn không nhằm tuyến đường chúng tôi đi thôi. Tôi kêu nước cam, nhưng thấy cung cách lễ phép của cậu chủ quán, để đáp lại tôi nảy ra ý muốn thử hương vị cà phê dù không biết uống. Cậu mang cho tôi một ly cà phê filtre đặt trên cái tách đổ nhiều sữa, thêm một ly đá đặt cạnh để tôi tự pha đúng khẩu vị. Thật ra tôi uống chè-cà-phê chứ không phải cà phê, vì sữa chiếm gần 2/3 cà phê rồi. Quán bán cả thức ăn, menu in ấn lộng khung treo quanh tường nhiều món khá hấp dẫn, cũng tới giờ ăn trưa nên chúng tôi gọi món. Cậu chủ vào trong kêu, có hai người trạc tuổi tôi bước ra giới thiệu là ba mẹ của cậu trai. Họ gợi ý cho chúng tôi các món tủ của nhà hàng, lời lẽ nhã nhặn. Tôi gọi các món cơm rang, canh, thịt, cá chiên, người vợ xin lỗi kêu chúng tôi chờ một lát để bà sửa soạn hơi lâu vì mọi thực phẩm đều tươi chỉ khách gọi thì mới nấu chứ không nấu trước sẽ cũ và nguội lạnh. Tôi nói là tôi có nhiều thời giờ, chính các thức ăn chưa nấu tôi an tâm hơn là đã nấu sẵn. Đúng là thức ăn khá ngon trình bày trong các dĩa chén đũa đều đẹp sạch, kể cả tăm xỉa răng được bọc giấy chứ không trần trụi. Nhất là toilet sạch bóng, một điều hiếm thấy. Cung cách tiếp đón khách vui vẻ niềm nở. Tiếc tôi không nhớ quán ở nơi nào. Chia tay với chút lưu luyến. Từ Hà Giang trên đường thỉnh thoảng xuất hiện từng toán chạy moto hai người, hoặc nhóm năm bảy người, hoặc một toán trên chục người cũng cồng kềnh ba lô, túi xách, giày thể thao như chúng tôi. Có cả vài đoàn khách ngoại quốc nam nữ với hướng dẫn viên người Việt thuê moto tự chạy. Chúng tôi bớt cảm giác đơn điệu độc hành. Có những đoạn đường xây rộng làm chỗ đậu xe cho khách ngừng lại chụp hình ngắm cảnh. Một nhóm thanh niên thiếu nữ trẻ mặc y phục cùng kiểu màu đen ngồi xếp bằng thành vòng tròn giữa đường nhân lúc ít xe qua lại, cho một người cầm máy thu hình lấy phông là ruộng bậc thang hay cây nghiến cô đơn Cán Tỷ, Quản Bạ xa xa. Xuất hiện mấy cậu bé cô bé người Thượng đứng dọc theo đường, chờ chúng tôi đến gần thì chạy theo. Lúc đầu tôi cứ tưởng chúng tò mò ngắm du khách vì cả ngày không biết làm gì nên giết thời giờ, sau cứ thấy cách một đoạn thì lại xuất hiện thêm những cô cậu bé khác, vừa chạy chầm chậm vừa nhìn chúng tôi chăm chú như muốn níu kéo hỏi han điều chi. Có cả vài phụ nữ Thượng cũng ngồi hay đứng cạnh đường – nhưng những người lớn chỉ nhìn chúng tôi chứ không chạy ùa theo như trẻ nít–Cháu tôi nói : –A con hiểu rồi, mấy người này đón khách để xin tiền hay thức ăn đây. Tội nghiệp quá, để mình cho họ đi. Thấy xe chúng tôi ngừng, hai cậu trai trạc 10 -12 tuổi gầy gò ốm yếu chạy lại. Chúng tôi lấy mấy hộp xôi, bánh đưa. Một cậu bé cầm lấy, không nói gì. Lại đưa mắt tìm trong đống hành trang, có vẻ chờ để nhận tiếp. Thấy thế Vĩnh An nói : –Hai đứa cùng chia đều nhau nhé. Bé chắc chẳng hiểu tiếng Việt nên nín thinh. Tôi nói với Vĩnh An hãy chia phần cho bé kia, chứ không nó tưởng là cho mỗi mình nó, không chia đâu. Vĩnh An lập lại câu nói mấy lần, cậu bé vẫn tỉnh bơ ôm hết các hộp thức ăn, bánh. Cháu tôi ra dấu, chỉ vào hộp thức ăn xong chỉ qua cậu bé đứng cạnh và đẩy hai bàn tay sang hai bên. Cậu bé vẫn an nhiên bất động. Vĩnh An hỏi : –Chú nói con có hiểu không ? Thì cậu bé chỉ hơi gật nhẹ đầu. –Thế thì con chia quà cho bạn đi. Bạn hay là anh em, nhìn giống nhau quá ? Cả hai bé chả trả lời lẫn nhúc nhích mà tiếp tục nhìn vào các thứ treo trên xe. Bé chưa có quà cũng thế, chăm chắm hết nhìn chúng tôi lại nhìn vào xe chứ chả màn mấy món mà bé kia đã cầm trong tay. Rồi cậu bé-đã-nhận-quà bỗng chỉ vào bịch mía treo trên ghi-đông xe, nói giọng lơ lớ: –Cho xin bịch mía kia đi. Tôi kêu Vĩnh An còn lại gì thì lấy đưa hết cho bé kia, còn bịch mía chia hai đừng đưa hết một đứa, cho công bằng kẻo đứa có đứa không. Chắc phong tục ở đây ai nhận được thì giữ riêng chứ không chia xẻ nhau. Đi thêm một đoạn, từ xa thấy khá đông người và xe tụ tập trên một rẻo đất de ra ngoài khá rộng. Chúng tôi cũng bắt chước ghé lại. Kinh, Thượng lẫn lộn. Phóng tầm mắt nhìn xuống dưới xa là đèo Mã Pí Lèng quanh co ngoạn mục mà lúc quay về chúng tôi sẽ đi trên cung đường ấy. Nhiều người lớn, trẻ em trai gái mặc y phục dân tộc đủ màu sắc đứng ngồi kề cà theo du khách. Lưng đeo gùi cắm hoa cải, hoa tam giác mạch, đầu đội vòng cỏ kết hoa làm dáng. Du khách nào thích thì kêu lại chụp chung hình rồi biếu tiền tuỳ lòng hảo tâm nhiều ít. Thì ra không phải những người Thượng nầy bỏ thì giờ lên đây ngồi hóng mát ngắm cảnh, mà họ “làm việc”. Công việc của họ là làm người mẫu cho những du khách tò mò- như chúng tôi chẳng hạn. Dì cháu tôi cũng nhí nhảnh kéo ba bé gái lại chụp hình chung. Ngẫm nghĩ không biết chúng tôi có quá vô tâm lấy việc chụp hình với các bé Thượng làm niềm vui ? Nói đi rồi nói lại, nếu không có những du khách ham vui dừng lại chụp hình, trao đổi tiền hay quà thì những người lớn lẫn trẻ con này sẽ đầu tắt mặt tối còng lưng trồng lúa, bắp, khoai hay xuống suối, mương tìm bắt mấy con cá nhỏ tẹo chưa chắc đã đủ ăn. Diện quần áo đẹp, ngồi chờ khách đề nghị chụp hình, việc nhẹ nhàng chắc chắn thu nhập khá hơn làm nương rẫy. Suy luận vậy tôi cảm thấy bớt có lỗi phần nào. 3/- Tiếp tục theo quốc lộ 4 C, đến cột mốc báo cách Đồng Văn 26 km, cắm bảng địa phận xã Sùng Là, cách không xa tới ngã ba có khối đá to tướng đặt trước con đường nhỏ, trên mặt vẽ chữ kiểu thư pháp bay bướm : H’Mong Village, khu Tráng Kìm, xã Đông Hà, Quản Bạ. Hỏi thăm cậu chủ quán bán nước và thức ăn vặt ven đường, cậu bảo chạy vào thêm chục km nữa sẽ tới buôn người H’Mong (chính cậu cũng là người H’Mong, nói sõi tiếng Việt), có resort nghỉ dưỡng với nhiều bungalow, nhà cộng đồng Quản Bạ, nơi có câu chuyện tình của nàng Mê Kia và thần Rồng. Chúng tôi mua vài món ăn vặt cậu chưng trong quầy rồi đi tiếp chứ không vào bản. Thật ra chỉ mình tôi muốn vào thăm thung lũng Sùng Là xem cách sinh hoạt của người Mèo, cùng thiên nhiên với sắc màu xanh cây lá, sắc hồng tím của cánh đồng hoa Tam giác mạch, màu vàng hoa cải… nhưng các cô cậu cháu tôi muốn đến Đồng Văn cho sớm nên thiểu số đành phải phục tùng đa số. Núi Cô Tiên Ở Quản Bạ còn có hai ngọn núi hình chóp nón nằm kề nhau, gọi là Núi Đôi hay Cô Tiên . Hai quả núi tròn đều đầy đặn giống bộ ngực thanh tân của người phụ nữ. Truyền thuyết kể rằng xưa có chàng trai H’Mong (Mèo) vừa khôi ngô vừa có tài thổi đàn môi nên đã chinh phục trái tim nàng tiên trên thượng giới tên Hoa Đào. Nàng trốn xuống trần kết duyên cùng chàng, sinh được một bé trai kháu khỉnh. Ngọc Hoàng hay được, sai quân bắt nàng về. Thương con thơ thiếu bầu sữa mẹ, nên nàng bỏ lại đôi nhũ hoa để chồng cho con bú. Sau con khôn lớn, bầu ngực biến thành hai quả núi. Nhờ dòng sữa của tiên Hoa Đào nên vùng đất này khí hậu mát mẻ, rau quả cây trái ngon ngọt, bắp lúa được mùa. Nước mắt nàng khóc thương chồng biến thành sông Miện, chảy xuôi theo vùng đất phía sau cổng trời. Cho hay bất cứ dân tộc nào cũng đều có những huyền thoại, truyền thuyết, cổ tích rất hùng tráng lãng mạn lưu lại nhiều thế hệ đời sau. Mục đích chuyến đi này tôi cố ý tìm xem cao nguyên đá, phố cổ Đồng Văn, dinh thự vua Mèo xưa, nhất là các cánh ruộng bậc thang từng thấy trong các bức tranh triển lãm hay lịch treo tường, một vùng phì nhiêu màu xanh lá mạ non, hay mùa thu lúa chín, cùng lá ngô đồng đổi sắc đỏ vàng đẹp lộng lẫy xao động cả trái tim tôi từ nhiều năm nay. Ruộng bậc thang tôi đã thấy nhiều nơi vùng Tây Bắc : Mộc Châu, Lào Cai, Sapa… nhưng chỉ là các mẫu ruộng bậc thang nhỏ không đáng kể. Có lẽ chúng tôi không đến đúng chỗ. Hơi thất vọng vì không được chiêm ngắm cảnh ruộng bậc thang đẹp như tranh vẽ. Sau nghiên cứu lại, thì quả nếu chúng tôi muốn xem thoả chí phải đến vùng Hoàng Su Phì thuộc tỉnh Tuyên Quang phía Tây Hà Giang thượng nguồn sông Chảy, sông Bạc. Hoặc ở xã Bản Phùng, Bản Luốc, Bản Nhùng…có đỉnh Chiêu Lầu Thi nổi tiếng cao 2400m nơi nhiều người Nùng, Dao, Mèo sinh sống mới chiêm ngắm cảnh bậc thang ruộng như ý được. Tiếc thật. Hoa Tam giác mạch Chúng tôi tiếp tục đi qua Yên Minh, Mèo Vạc. Bên vệ đường, phía sau những thanh rào chắn (barriere ) dọc theo xa lộ còn một khoảng đất trống nhỏ sát mép bờ vực người dân tận dụng trồng bắp hay cải xanh kéo dài hàng chục, trăm cây số. Lác đác vài cánh đồng trồng hoa tam giác mạch tức kiều mạch. Là loại hoa be bé dễ thương lúc mới nở màu trắng dần chuyển sang hồng nhạt, hồng tím, đỏ sẫm khi úa tàn thì phai sắc mà du khách có thể mua vé vào xem, chụp hình. Chúng tôi cẩn thận không dẫm chân lên luống hoa để giữ các cây nguyên vẹn. Tam giác mạch được chế biến thành bánh bằng cách xay hạt cho nát, nhào với bột, đem đúc khuôn hấp chín hoặc nướng trên lửa than. 07.2023

Thanh Hà

Mục Lục


4. Cô gái mang trái tim của người yêu - Phần 14

Phan Thái Yên



Cho những trái tim Sài Gòn vẫn đập nhịp 70s Tiếng còi nhiệm sở vận chuyển vang lên. Chiếc HQ12 nhập vùng đang tiến tới gần. Nhân cùng nhân viên Vận chuyển đứng lố nhố dọc theo tả hạm chờ đợi. Anh gặp Hạm Phó từ Đài Chỉ Huy xuống boong sau…Vùng I Duyên Hải lệnh cho HQ12 tiếp tế đạn và lương thực cho mình. Kỳ này Hạm Đội chơi ngon, nghe nói chạy chọt gởi cả Ration C…Cũng có nghĩa là trong vài ngày tới khỏi mơ được nghĩ bến, đi chợ Cồn, ngồi cà phê Lộng Ngọc. Hạm Phó cười đểu nhìn Nhân.  Và nhất là phải chờ lâu hơn mới được thưởng thức lại Bún bò Bà Năm Dưỡng.  Không sao, thằng em này không quên đâu…Nhân cười.  Vậy thì anh mầy phải chơi hai tô cho bỏ công. Hai chiến hạm cặp kè nhau. Đạn dược và lương thực tiếp tế đã chất sẳn sàng ở boong sau HQ12. Nhiều nhân viên, thủy thủ hai chiến hạm quen biết nhau chuyện trò rôm rả. Nhân vui mừng gặp lại một bạn đồng khóa từ sau ngày tốt nghiệp rồi thực tập hành quân sông với giang đĩnh PBR tận trên miệt sông Sacramento California. Anh chàng lắc đầu than van…Chiến hạm mới nhận công điện, Hạm Đội lệnh phải “lắc lư con tàu đi” thêm ít nhất ba tuần nữa…À, sáng nay tao gặp thằng Ngọc sau mình một khóa đang làm Tùy viên cho Tư lệnh Vùng I Duyên Hải, hắn nói nghe Tiền Phương báo về Vùng khen HQ13 yểm trợ hải pháo đêm qua ngon lành. Nhân trêu bạn, vỗ ngực ra vẽ tự hào…Mầy đang nói chuyện với Trưởng khẩu 76.2 ly đây! Thằng bạn cười khi dễ…Chuyện nhỏ! Tụi này vẫn lai rai yểm trợ hải pháo từ hồi tháng Tư tới giờ. Khác là hồi đó yểm trợ chạy làng, giờ là để tái chiếm…Rồi hắn văng tục…Đéo tin nỗi! Bốn tháng…Ăn mẹ nó hết mì Quảng Chợ Cồn, cà phê quán Thằng Bờm, Thằng Cuội, Ngọc Anh, Lộng Ngọc, Thạch Thảo vân vân và vân vân đều nếm đủ, vậy mà vẫn phải nhắm đầu Tượng Phật Ngã-Ba-Đi-Huế làm point. Nhân bởn cợt.  Vậy là đúng rồi! Chưa ghé Quán Tre gần chợ Cây Me ngồi chờ em Thìn điệu đà cúi thấp đặt ly cà phê trước mặt quan thì đi đâu cho được.  Em tên Thìn hả!? Sao không đi làm hôtesse de l’air cho hảng máy bay con Rồng…mà bưng cà phê. Hai thằng bạn lâu ngày mới gặp cùng cười. Mỗi người một tay, cuối cùng hàng tấn đạn dược đã được chuyển từ HQ12 rồi đưa vào kho an toàn. Sỹ quan Ẩm Thực cũng kiểm kê xong số Ration C tiếp tế. Nhân yên lòng nhìn số đạn 76.2 bổ sung vào cả trăm viên đạn bắn sáng nay được chất ngay ngắn trong hầm mũi. Đạn 20 và 40 ly cũng được các nhóm xạ thủ vác lên bệ súng đầy lại như trước. Huy xoa tay hài lòng rồi nhìn đồng hồ, quay chào Nhân…Tao vào kiếm tí gì dằn bụng rồi lên ca cho kịp.  Chắc tao trốn cơm chiều, làm một giấc nữa cho tỉnh táo để tối lên thay ca cho mày… Trăng chớm hạ huyền, đi ca tới nửa đêm tha hồ mà ngắm chị Hằng mười bảy bẻ gảy sừng trâu.  Sừng trâu hay sừng Chú Cuội…Huy phá lên cười, nói ngoái lại. Những ngày tiếp theo, hai chiếc HQ12 và HQ13 luôn cặp kè nhau, cả những lúc yểm trợ hải pháo. Dàn chiến hạm Hải quân Mỹ được tăng cường thêm hai pháo hạm trang bị hỏa tiển dẫn đường di chuyển xa hơn về hướng Bắc chừng 5 hải lý. Hai chiến hạm Việt Nam theo tình hình chiến sự báo cáo từ Tiền Phương vẫn giữ khoảng cách gần bờ và bám theo sau chiến hạm Mỹ vừa đủ xa để khỏi bị đánh đèn đuổi như đuổi tà. Một tối Nhân cùng người sĩ quan theo anh thực tập xuống ca vừa tắm rửa, ăn chưa xong bữa cơm thì còi Nhiệm sở Tác chiến đã vang lên. Thật ra trước đó lúc hai người đang giao ca, Tiền Phương đã gọi CIC báo cho Hạm Phó những tọa độ cần yểm trợ hải pháo. Ngay sau khi Hạm Trưởng được mời lên, nhìn nhóm tọa độ Hạm Phó vừa chấm lên hải đồ ông đã vẽ ngay hải trình lệnh cho chiến hạm tiến vào cách bờ 2000 yards. Lúc các toán xạ thủ vào nhiệm sở, trưởng khẩu báo cáo sẳn sàng thì Hạm Phó đã có tầm bắn và hướng tác xạ cho họ. Đêm nay nhóm đại bác 20 ly không có lệnh bắn yểm trợ nên được làm khán giả ngồi ghế hạng nhất ngửi mùi thuốc súng và xem đại bác 40 ly, “đại pháo” 76.2 nả đạn. Giọng Hạm Phó dõng dạc từng hồi ra lệnh.  Đại bác 40 ly chuẩn bị!…Tầm bắn 4000 yard, rãi đều từ hướng 240 đến 270. Bắn!  Đại bác 76 ly chuẩn bị! Bốn đạn nổ, tầm bắn 8500 yards, hướng 250. Sau đó, tiếp tục mỗi lần bốn đạn nổ, hướng +1 cho tới khi đạt hướng 260. Bắn! Phía tả hạm cách chừng 500 yards, HQ12 cũng vừa bắt đầu khai hỏa. Tiếng đại bác gần xa chen nhau nổ vang trời, âm thanh khô dòn của 40 ly hòa trong tiếng nổ rền của 76.2 ly nghe như từng cơn sấm động gầm gừ không dứt. Trên trời đêm lãng đãng ánh trăng hạ huyền từng ánh lửa nẹt ra từ nòng đại bác tích tắc nhá lên trong ánh mắt người xạ thủ những đường đạn bay mường tượng mơ hồ. Một vùng khói xám nhạt luẩn quẩn bao quanh mũi chiến hạm. Sau hơn bốn mươi phút, Nhân báo cáo hướng bắn của đại bác 76.2 ly đạt hướng 260.  Đại bác 40 ly ngưng tác xạ. Giải tán.  Đại bác 76.2 ly nghĩ tại chổ 5 phút. Stand by! Chiến hạm ngừng bắn, Nhân vừa cởi nón sắt tai đã tưởng như bị ù đi bởi từng cơn sấm động nối nhau rền vang từ hướng Bắc. Anh đứng lên nhìn về hướng 4 giờ, dàn chiến hạm Mỹ tám chiếc gần như bao phủ bởi lớp khói trắng mờ lung linh ánh trăng. Từng vệt lửa thi nhau khạt ra từ những khẩu đại pháo 127 ly,145 ly chênh chếch nòng chỉa vào đất liền. Thỉnh thoảng là những luồng sắc nhọn màu đỏ cam của hỏa tiển dẫn đường vút vào không gian như đường sao băng hung hãn đầy đe dọa. Nhân đội nón sắt trưởng khẩu vào đầu, bảo mọi người trở về vị trí. Từ Đài Chỉ Huy giọng Hạm Phó rõ ràng…Nghỉ đờ mi tăng, coi pháo bông của Uncle Sam mãn nhản rồi chứ? Sẳn sàng vào hiệp hai!  Đại bác 76 ly chuẩn bị! Bốn đạn nổ, tầm bắn 8000 yards, hướng 260. Sau đó, mỗi lần bốn đạn nổ, hướng -1 cho tới khi đạt 250. Bắn! Khẩu đại bác 76.2 ly lại cần mẫn nả đều từng viên đạn vào tuyến sau của địch cho đến khi hoàn thành lệnh tác xạ. Còi giải tán Nhiệm sở Tác chiến nghe êm như tiếng còi Taps Taps báo hiệu giờ ngủ. Nhân cùng nhóm “thu dọn chiến trường” rồi vội vàng lên Đài Chỉ Huy tiếp tục coi pháo bông. Qua ống dòm hồng ngoại dàn tàu Tuần dương và Khu Trục ngoài đại bác 127 ly, 145 ly thi nhau nhả đạn còn có hỏa tiển dẫn đường đáng sợ. Từng trái hỏa tiển từ bệ phóng ra nháng lên tia lửa dài để lại vùng khói trắng quần tụ trên boong trông hùng vỹ đến nao lòng. Rời Đài Chỉ Huy về phòng Nhân bâng khuâng thầm nghĩ tới hệ lụy từ những điều anh chứng kiến và góp phần đêm nay nơi vùng biển Quảng Trị. Hàng chục ngàn thanh niên miền Bắc đổ vào Nam Lào, xuống Gio Linh đã bị thiêu đốt trong chảo lửa vùng phía Nam Vĩ tuyến 17. Họ bắn phá chiếm đóng Đông Hà, Quảng trị, pháo kích ngăn chặn dân lành chạy loạn gây bao cảnh kinh hoàng để rồi hai tháng sau cả chục ngàn người trẻ khác đang mất mạng cho sự hô hào sẳn sàng hy sinh để bảo vệ thành quả Chiến dịch Xuân-Hè của Cọng Sản Bắc Việt mà quân đội Việt Nam Cộng Hòa đang nổ lực tái chiếm phần quê hương bị tạm chiếm. Hệ lụy chẳng dừng ở một phía, hàng ngàn thanh niên Miền Nam phải chịu quân dịch đôn quân cầm súng chiến đấu, bắn và bị bắn để bảo vệ quê hương và đời sống tự do của dân lành, chẳng chỉ Quảng Trị mà khắp cùng đất nước KonTum, An Khê, Tây Nguyên, Phước Long, An Lộc, Đồng Tháp, Mộc Hóa, Năm Căn…Mùa Hè đang dội lửa xuống đầu người dân Việt cả hai Miền. Giấc ngủ của Nhân đến thật chậm… Quê hương đau nắng hạ cũng buồn. Nước sông ngăn đôi sơn hà, còn gì em còn gì đâu. Mùa hạ qua mau đi nữa đi anh trên con đường quê hương mịt mùng. Thương những chiều nắng dọi bờ sông…Dù hạ qua mau anh vẫn đưa em cuối con đường quê hương bùn mềm. Thương những người giết giặc ngày đêm…(Trầm Tử Thiêng) HQ 13 về Đà Nẳng nghĩ bến, vừa lúc đạn dược lương thực cần tiếp tế. Trận yểm trợ hải pháo rạng sáng nay chúng tôi đã xử dụng vào một phần số đạn dự trữ. Thủy thủ đoàn reo mừng được hai ngày nghĩ bến sau một tuần mất ngủ và bắt đầu nhớ thức ăn tươi. Buổi chiều, Sĩ quan Đệ Tam trúng phiên trực chiến hạm, khuôn mặt vốn đã đen giờ càng đen bóng hơn “bất mãn” nhìn Hạm Trưởng và dàn sĩ quan vui vẻ đứng ngồi trên chiếc zulu vừa hạ thủy từ chiến hạm rẻ sóng chạy vào sông Hàn. Mọi người ồ lên ngạc nhiên khi nghe Hạm Trưởng thông báo ông sẽ nhờ nhà bếp mua năm chục trứng hột vịt lộn mang về tàu ăn vào tối mai, nhưng Bún bò Bà Năm Dưỡng chiều nay thì vẫn theo kiểu Mỹ. Nhân nhìn Hạm Phó tiếc rẽ.  Phải chi Comandant bao bún bò thì đở cho thằng em biết bao nhiêu. Hạm Phó cười giải thích với Hạm Trưởng.  Thiếu úy Nhân và người đẹp của chàng ta nợ tôi hai tô đặc biệt ở quán này…Đừng hòng chạy làng nghe thằng em. Chiếc ca-nô chạy qua Tòa Thị Chính, Bưu Điện rồi tấp vào Bến Cá. Đường phố Đà Nẳng chiều nay có dịp chứng kiến cảnh hiếm hoi một toán Sĩ quan Hải Quân lon lá từ nhỏ đến lớn, lạ mắt, phong độ vui vẻ dạo phố. Họ bước theo đường Độc Lập, qua Nhà sách Sông Đà, Chợ Hàn, qua cà phê Diên Hồng rồi vào đường Phan Châu Trinh tới Ngã Năm, đi tiếp về phía chợ Cây Me. Quán Bún Bà Năm Dưỡng đông khách nhưng may mắn có người nhường ghế, hai bàn kéo lại đủ chổ cho cả dàn quan tàu thủy hiếm gặp. Lúc ca-nô về lại chiến hạm, Nhân ngoái nhìn thành phố lòng chợt bâng khuâng nhớ lại hình ảnh mình mười ba năm trước. Năm Đệ Thất, ngôi trường trung học Phan Châu Trinh không xa bờ sông, leo con dốc thoai thoải từ Bưu Điện chưa tới cây số là đến trường. Dọc bờ sông Hàn đang giữa mùa Hè phượng đỏ thắm, la đà soi mình trên dòng nước. Nhân nghĩ đến Ngọc, thằng bạn nhỏ ngồi chung bàn đầu năm Trung học duy nhất của anh ở Đà Nẳng trước khi gia đình dọn lên Đà Lạt. Nhân thầm nghĩ sáng mai sẽ tìm hắn rủ ra Câu Lạc Bộ, nghe nói Ngọc đang là Tùy viên của Tư Lệnh Vùng I Duyên Hải. Buổi sáng. Giấc ngủ đẫy giấc đêm qua giúp Nhân thức sớm, tràn đầy năng lượng. Anh ra boong sau làm những động tác thể dục thường lệ rồi vào phòng, vệ sinh cá nhân, mặc quân phục xong ra ngồi ở ca-rê Sĩ quan. Huy dậy sớm theo thói quen đang ngồi uống trà sen đặc quánh như ông cụ non. Huy ngạc nhiên thấy Nhân gật đầu liền rót ra tách nhỏ mời anh. Hai thằng ngồi tán dốc thời sinh viên ở Cư xá Minh Mạng, Công Lý những tối Thứ Sáu cả bầy vô công rỗi nghề nổi hứng ném vài cục gạch chọc Cảnh sát Dã chiến Con Nhện bao vây cư xá náo động cả khu phố rồi lặng lẽ trốn ra ngoài uống cà phê. Đang lúc trò chuyện rôm rả thì một nhân viên Vô tuyến ló đầu vào.  Thiếu úy Nhân lên trình diện ông Hạm. Hạm Trưởng đẩy bức công điện đến trước mặt Nhân.  Tôi vừa nhận sáng nay. Anh đọc đi rồi chúng ta nói chuyện. Nhân chăm chú đọc công điện thuyên chuyển anh về Giang Đoàn 63 Tuần Thám, trình diện đơn vị mới trong vòng 72 giờ. Hạm Trưởng nhìn nét mặt điềm tỉnh của Nhân nhếch môi cười.  Không ngạc nhiên sao? Nhân lắc đầu…Dạ, bất ngờ chứ không ngạc nhiên…Anh cười trả lời.  Lần lượt Lộc, đến Phúc rồi Quang. Tên tôi kế là điều chắc chắn, chỉ hơi bất ngờ vì nghĩ sớm nhất cũng đi hết chuyến công tác này mới có lệnh thuyên chuyển. Ông kéo bức công điện về phía mình, cầm lên nhưng không đọc.  Anh là sĩ quan có khả năng. Chiến hạm thiếu anh trong thời gian này…đúng là tôi đang nhức đầu đây. Hạm Trưởng nhìn Nhân, chậm rãi…Anh đừng quan tâm việc phải trình diện đơn vị mới trong vòng 72 giờ. Ngày chiến hạm trở ra biển Quảng Trị, tôi sẽ đánh công điện thông báo chiến hạm đang trong vùng hành quân, cần anh chuẩn bị bàn giao cho sĩ quan mới về Trọng pháo và Hải hành trước khi rời đi. Anh sẽ trình diện Giang Đoàn 63 Tuần Thám trong vòng hai tuần. Nhưng thực tế anh chỉ cần đi chuyến công tác 7 ngày tới để giúp thiếu úy Huy rành cách kiểm xạ đại bác 76.2 ly và vài ca hải hành cho hai Chuẩn úy tân đáo biết thêm nhiệm vụ của Sĩ quan Trưởng phiên. Ông tiếp lời có vẽ phân trần…  Tôi sẽ ký cho anh 7 ngày phép khi về Đà Nẵng nghĩ bến lần tới. Anh vừa đi phép thường niên tháng trước nên tôi chỉ có thể du di tới đó.  Vậy là Commandant ưu ái lắm rồi, tôi không dám đòi hỏi gì hơn. Chỉ mong Hạm Trưởng ký giấy nghĩ phép bắt đầu hiệu lực vào ngày chiến hạm trở ra vùng công tác, cho tôi có thời gian tìm phương tiện về Sài Gòn, và nhất là…lần đầu tiên cũng là lần cuối tháo dây làm người ở lại nhìn theo HQ13 rời bến. Ông Hạm trưởng Cao bồi nhìn Nhân khoát tay cười theo kiểu…tôi đi guốc trong bụng anh.  OK. Quyết định vậy đi. Anh tìm bảo Hạm Phó lên gặp tôi. Hai ngày nghĩ bến nhưng hết mẹ một ngày đi lấy nhiên liệu và lãnh đạn cho cả hai chiến hạm. Nhân đứng trên boong mũi lơ đãng nhìn chiếc ca-nô lố nhố quan lính đi bờ Đà Nẳng đang rẽ sóng chạy về phía cửa sông Hàn lòng hẩng buồn như người lỡ chuyến tàu quê. Nhân sắp phải từ giã chiến hạm nơi hai năm qua anh xem như tổ ấm của mình. Biết bao kỷ niệm vui buồn sẽ là gói hành trang theo anh suốt cuộc đời. Tình bạn, tình đồng đội, gặp gỡ chia lìa. Tình yêu, hạnh phúc, định mệnh, khổ đau chính là cuộc sống anh tuôn chảy trọn vẹn theo dòng hải triều mãi hòa nhịp yêu thương trong lòng người con gái tuyệt vời cùng san sẻ một mối lòng chung thủy. Anh nhớ nàng, người con gái sống và yêu anh bằng tình cảm sôi nổi thuần khiết của mình với trái tim đơn giản thiết tha. Mùi thuốc ống vố Half and Half thoảng theo chiều gió, Nhân quay lại nhìn Hạm Phó có lẽ từ phòng Truyền tin bước ra.  Tôi tưởng Hạm Phó đi bờ chứ?  Ở lại liên lạc với Căn cứ Yểm trợ Tiếp vận Đà Nẳng lo vụ lấy dầu, lãnh đạn và nhân tiện trực thế cho thằng em mới. Hắn muốn đi chợ trời ở Chợ Cồn mua cái máy cassette nghe nhạc…Ông đùa…Thấy chú mày đứng lạng quạng trước mũi tao phải ra cản sợ chú mày nghĩ không thông. Cả hai cùng cười. Hạm Phó là người giàu tình cảm, ngoài Phúc Quang đã rời chiến hạm tôi là người ông rất thân cận. Ông kể chuyện giang đoàn, chia sẻ kinh nghiệm đánh đấm từ tháng ngày còn ngang dọc ở Mộc Hóa Tuyên Nhơn. Ông cười nhưng không đùa…Chú mày nhớ và hiểu cho rõ mấy điều này...Hạm Đội và Giang Đoàn là nước biển với nước phèn, là quay gót 180 độ, là “hai phương trời cách biệt” không thể so sánh. Dưới Giang đoàn, Việt Cọng khi rất gần lúc xa nhưng luôn rình rập…cánh rừng tràm cách căn cứ không hơn cây số, đám lục bình trôi trên sông hay dồn đống bên hàng đáy đóng choán hơn nửa dòng kinh, là cây chuối mới trồng lá xàu úa chưa lại sức hay ngọn đèn treo “mình ên” bên bờ nước, là cô thợ may trong nhà lồng chợ, chiếc xuồng ba lá giăng câu cắm lợp không xa nơi tàu ủi bãi…mọi thứ đều có thể. Tập mở mắt lắng nghe, tập có linh tính và tin nó. Khác với Bộ binh cho dù là Biệt Động Quân, Thủy Quân Lục Chiến hay Nhảy Dù, hành quân dưới kinh rạch không có hố cá nhân để núp, không có chổ để trốn đạn nhất là trên “tàu giấy” PBR cho nên áp đảo bằng hỏa lực phủ đầu là thượng sách duy nhất. Hạm Phó đốt lại ống vố, hít phả ra làn khói thuốc thơm.  Nhớ hết rồi chứ!? Thấy Nhân gật đầu, ông cười nói.  Anh sẽ tặng chú mày hai bộ rằn ri, một bộ còn cả lon trung úy trên cầu vai và cái nón bê-rê đen Biệt Hải. Hồi đó anh mày cũng màu mè tới bến, có cả hai bông mai đen gắn trên ngực áo để dợt le mấy cô giáo trường quận…Rồi ông bổng nheo mắt nhìn Nhân…Mấy hôm nay lu bu quên hỏi, hôm Tham Mưu Trưởng Lữ đoàn Dù ở Tiền Phương yêu cầu gặp chú mày ông ấy đã nói gì vậy? Nhân kể lại.  Nghe trong máy ổng lu bu điều động rất chộn rộn nhưng cũng nói được đúng hai câu…Đại bác chiến hạm mà các anh bắn vậy là khá lắm. Tiếp theo là câu hỏi Anh tên gì, cấp bậc, số quân. Vậy thôi. Hạm Phó gật gù bật mí.  Hồi nảy nghe Hạm Trưởng nói Bộ Tư Lệnh Vùng I Duyên Hải cũng nhận được thông báo tương tự từ Bộ chỉ huy Tiền Phương nên ông chớp cơ hội làm báo cáo về Vùng và Hạm Đội đề nghị khen thưởng vài người, cũng là đẩy cái tên HQ13 lên đằng trước. Ông gõ ống vố lên thành tàu cho sạch tàn thuốc rồi đút vào túi, đi vài bước ông chợt ngoái lại.  Về Sài Gòn nhớ vào Khu Dân Sinh tìm mua một đôi giày sô của Mỹ loại bằng vải cho “chân cứng đá mềm”…Đi đâu thì đi, chiều nhớ về tàu trước 5 giờ qua cập cầu Căn cứ Yểm trợ Tiếp vận. Đang giờ làm việc Câu lạc bộ Căn cứ Hải quân Đà Nẳng chỉ lác đác thủy thủ nhân viên từ HQ13 và các chiến đĩnh PCF nghĩ bến của Hải Đội I Duyên Phòng im lặng uống cà phê, ăn mì gói. Không xa là tòa nhà trắng đứng bề thế trên một dốc cao, tư gia của Tư lệnh Vùng I Duyên Hải. Nhiều bậc cấp đưa lối lên biệt thự, trên sân vài cây sứ cùi nở đầy hoa trắng. Một thiếu phụ rất trẻ đứng thư thả sau dãy tường thành xây lửng ôm quanh khoảng sân rộng dài khuất vào phía sau tòa nhà. Lúc nãy nói chuyện qua máy truyền tin, Ngọc hẹn sẽ gặp tại Câu lạc bộ nên Nhân chậm rải bước vào gọi ly cà phê đá ngồi nhìn ra ngoài. Vài phút sau Ngọc vội vã từ biệt thự đi xuống, anh chàng tươi cười nét mặt có phần kính nể lúc trao đổi vắn tắt với người thiếu phụ rồi đi xuống chổ Nhân. Nhân định gọi cà phê nhưng Ngọc lắc đầu rồi thấp giọng nói.  Chị ấy là Phu nhân của Tư Lệnh, học sau mình hai năm ở Phan Châu Trinh đó.  Tao học ở Phan Châu Trinh chỉ một năm Đệ Thất làm gì có hân hạnh đó…Nhân cười. Ngọc nhìn đồng hồ cho biết…Tao chỉ ngồi được vài phút thôi. Hạm Trưởng mày đang gặp Tư Lệnh về chuyện tiếp tế đạn dược, lương thực cho chiến hạm và báo cáo của Bộ Chỉ Huy Tiền Phương cùng Lữ đoàn Nhảy Dù về HQ13…Ngọc cười…Loáng thoáng nghe tên mày và Hạm Phó được nhắc tới. Nhân lắc đầu.  Mấy chuyện này không quan trọng nữa. Tao có lệnh thuyên chuyển về Giang đoàn dưới Đồng Tháp Mười, đang tìm cách liên lạc với thằng bạn Mỹ cùng khóa ở OCS đang làm việc ở MACV Sài Gòn nhờ hắn xin phương tiện máy bay quân sự về Sài Gòn tuần tới. Mầy có số của MACV Đà Nẳng không? Đã từng liên lạc với họ chưa? Địa chỉ MACV Đà Nẳng ở đâu? Ngọc từ tốn cười.  Từ từ cha nội! Đưa tao tên, cấp bậc, số phôn của hắn để tao tìm cách liên lạc. Not sure… nhưng ít nhất tao sẽ báo cho mày địa chỉ và điện thoại của MACV Đà Nẳng.  Chiều nay HQ13 sẽ qua Căn Cứ Yểm Trợ Tiếp Vận, ở đó đến sáng mai. Có gì mày cứ gọi cho phòng Truyền tin hỏi gặp tao. Ngọc viết thông tin liên lạc của Tom vào quyển sổ nhỏ chi chít chử vừa rút ra từ túi áo của bộ quân phục tím bốn túi, mode của dân Hải quân Vùng I Duyên hải, rồi đứng lên.  OK. Tao phải dọt gấp. Tango Lima gọi không có mặt, có khi phải khăn gói ra Cửa Việt thì thấy mẹ.  Ê thằng em! Sĩ khả trảm bất khả nhục…Nhân đùa.  Chuyện đó tính sau. Tuần tới gặp lại, trảm vài chai Tiger rồi bàn chuyện vinh nhục sau… Nói xong Ngọc ba chân bốn cẳng chạy về biệt thự. Nhân thấy đói, anh gọi thêm cà phê đen và bánh mì ốp-la. Cà phê đá ở đây lạt nhách. Anh nhâm nhi cà phê lơ đãng nhìn chiếc ca-nô khá lớn cập vào cầu tàu sau đuôi chiếc HQ13, một trung úy Hải quân Mỹ tay xách cặp da nhanh nhẹn bước lên. Anh có lẽ đã từng đến đây, quen thuộc bước vào Câu lạc bộ khẻ chào lúc bước qua mặt Nhân nhưng rồi lưỡng lự quay lại nhìn vào tay đeo nhẩn của anh.  Sorry! Good morning. If you don’t mind…Are you graduated from OCS Newport?  Yes, I am…Nhân cũng vừa nhìn thấy bàn tay đeo nhẩn của anh ta…Oh, yeah! The school ring. We’re brothers. Hai người mừng rỡ tay bắt mặt mừng như bạn bè cũ lâu ngày mới gặp nhau. Nhân mời anh ngồi, hai người tự giới thiệu. Nhân chỉ về chiếc HQ13.  Tôi ở trên chiếc 13. Cả tuần nay ở ngoài biển Quảng Trị, vào nghĩ bến chiều qua để nhận thêm đạn dược, nhiên liệu và cho nhân viên thay phiên đi bờ. Joe gật đầu khen ngợi.  I know! You guys are very brave and doing a great job out there. Nhân cảm thấy hảnh diện, anh nháy mắt mỉm cười.  Còn anh đến từ đâu?  DDG 14 Destroyer Buchanan, đang đậu ngay phía ngoài vịnh. Wow, 13 & 14! We’re now even more brothers…Joe cười. Nhân mời Joe cà phê đá kiểu Việt Nam và bánh mì ốp-la trứng kiểu Tây. Joe thân thiện gật đầu…Thank you, that’s very nice of you. Hai người vừa ăn vừa chuyện trò thân mật. Joe vắn tắt kể chiếc Khu trục hạm 14 vào giữa tháng Tư đã cùng hai chiến hạm khác tiến vào vùng biển ở Vinh nã pháo phá sập những cây cầu trọng yếu quanh thành phố này để ngăn chặn đà tiến của Cọng Sản Miền Bắc vào đánh chiếm Quảng Trị. Sau đó hai Khu trục hạm bạn pháo cháy một đài quan sát trên đảo Hòn Mắt và làm hư hại hai duyên đĩnh gần Đảo Biển. Không lâu sau chiếc DDG 14 trúng đạn pháo biên phòng từ trong đất liền làm thủng một lỗ lớn bên tả hạm gần vị trí neo mũi giết chết một Đại úy và làm bị thương năm nhân viên, thủy thủ. DDG 14 vào Đà Nẳng xin Căn cứ Yểm trợ sửa chữa khẩn cấp. Nhân nhìn chiếc cặp da có logo US Navy người sỹ quan Mỹ cẩn thận đặt trên bàn, anh tò mò hỏi.  Trông anh không giống một sỹ quan đang đi bờ, viếng thăm Đà Nẳng.  Yes and No. Tôi đi Đà Nẳng nhưng không phải đi chơi mà đang chờ xe jeep từ MACV qua chở về văn phòng bên đó làm việc một lúc rồi trở lại đây để về tàu trong ngày. Must be my lucky day! Nhân mừng rỡ nói như reo…rồi kể chuyện anh có lệnh thuyên chuyển về một đơn vị PBR “brown water” dưới vùng Mekong Delta, đang tìm cách liên lạc với người bạn tên Tom ở MACV Sài Gòn nhờ anh ta xin phương tiện cho nhanh. Nhân đưa thông tin liên lạc của Tom cho người sĩ quan nhìn thấy.  Small world! Tom là bạn cùng khóa với tôi ở OCS Newport…Anh đùa…He’s my travel agent. Liên lạc được với Tom, hy vọng sẽ có một chổ trên C123 tuần tới sau khi tôi đi một chuyến 7 ngày nữa với HQ13 để hoàn tất huấn luyện, bàn giao nhiệm vụ cho sĩ quan mới.  Consider it done!...Joe cười…Mình sẽ đi ngay khi xe đến. Anh có cần về chiến hạm lấy gì không? Nhân lắc đầu, trả tiền ăn sáng rồi theo Joe bước ra trước sân Câu lạc bộ đang lúc chiếc Jeep đã chạy qua khỏi Khu gia binh của Căn cứ Hải quân Đà Nẳng nhanh chóng trờ tới. Ở MACV Đà Nẳng, Nhân mừng rỡ cảm ơn người lính trực điện thoại thumb up rồi đưa điện thoại cho anh. Joe cũng gật đầu ra dấu đi làm việc của mình và hẹn gặp sau. Thăm hỏi xong, qua điện thoại Nhân vắn tắt tình hình chiến sự nhìn từ ngoài biển vào cho Tom nghe rồi đi vào chuyện chính…Tao có lệnh thuyên chuyển về Giang đoàn ở Đồng Tháp Mười. Chiến hạm đang nghĩ bến ở Đà Nẳng lãnh thêm đạn. Ngày mai tàu trở ra vùng, tao phải đi thêm một chuyến 7 ngày nữa để huấn luyện và bàn giao, khi trở vào tao sẽ cần một chổ ngồi trên C123 Mỹ về Sài Gòn ASAP. Mầy cố gắng giúp tao một vé vào ngày Thứ Ba hoặc Thứ Tư tuần tới. Sau khi cúp máy ở đây xong tao sẽ không có điều kiện để liên lạc thẳng như thế này nữa, làm ơn vào Bộ tư lệnh Hạm Đội gọi HQ13 qua tần số nhà binh cho tao biết kết quả và gởi công điện chi tiết manifest càng sớm càng tốt. Tao sẽ “kết cỏ ngậm vành” (không hiểu thì tra tự điển Lê Bá Kông). Giọng Tom cười vang trả lời…OK! Ngắn gọn là tao sẽ cố gắng hết mình kiếm cho mày một vé trên C123 Mỹ từ Đà Nẳng đi Sài Gòn vào Thứ Ba hay Thứ Tư tuần tới là được chứ gì.  Tom! Thank you in advance!...Tao thiếu mày một chầu cơm tấm sườn đặc biệt và ly cối cà phê sữa đá. OK! Bye! Nhân cảm ơn nhân viên trực điện thoại, hỏi thăm.  Is there a cafeteria somewhere near by? Anh ta khoát tay chỉ ra ngoài.  Just right around the corner, small thought. Nhân cười gật đầu…By the way, if my friend backs here looking for me, please tell him I’m at the cafeteria. Tiếng còi tan nhiệm sở vận chuyển vang lên. Con tàu ra khỏi cửa biển, trời nắng trong gió nhẹ, sóng ngang chỉ còn vỗ bập bềnh. Nhân đưa chiến hạm vào hướng của hải trình Hạm Trưởng vẽ từ cửa biển Sơn Trà đến Phá Tam Giang nơi HQ12 sẽ gặp vào khoảng 3 giờ chiều để nhận đạn tiếp tế. Nhân nhìn Phong, người sĩ quan mới lăng xăng bận rộn làm Point viết Nhật ký Hải hành, lòng nhớ lại chuyến công tác đầu tiên của đời lính gần hai năm trước cũng ở vùng biển này. Tình bạn với Phúc Quang thân càng thêm thân và rộ lớn với Tom người Sĩ quan Cố vấn vui tính dễ mến. Nhân kéo Phong quay nhìn về hướng Đà Nẳng, ôn tồn hỏi…Nếu chiến hạm vào cửa, làm Point ở vị trí này anh sẽ chọn 3 điểm nào. Phong quan sát quanh rồi chần chừ.  Hai điểm tả hữu thì tôi khá chắc nhưng điểm thứ ba để vẽ đường giữa thì không chắc lắm. Nhân nhìn tượng Phật Thích Ca khổng lồ ở Ngã Ba Đi Huế lúc này chỉ thấy phần đầu của bức tượng nhô lên khỏi hàng dương xanh thẩm, xa lắc. Nhân kéo Phong đến hải bàn, sau khi rà được đỉnh đầu của bức tượng vào khe định hướng anh để Phong nhắm vào đó. Anh ta suýt soa đứng lên nhìn bằng mắt thường phấn khích gật đầu.  Tượng Phật này nghe nói là cao nhất Đông Nam Á…Nhân nói. Tại bàn Hải đồ, Nhân chỉ cho Phong một dấu chấm rõ ràng bằng mực nguyên tử với ghi chú viết tay “Tượng Phật” rồi bảo anh có thể thử làm một Point mới với điểm này trước khi tàu đi khuất. Phong loay hoay đo vẽ, hài lòng nhìn dấu tam giác của cái Point anh vừa chấm. Nét mặt Phong bình thản hơn. Hai người đứng bên hải bàn trò chuyện về sinh hoạt trên tàu và những chi tiết cần biết cho một sĩ quan đi ca. Chiến hạm lúc này chạy êm với sóng xuôi, gió nhẹ, trời cao xanh. Nhìn những dấu tam giác của người sĩ quan tân đáo chấm trên hải trình, Nhân làm một point mới rồi gọi phòng lái đổi cấp hướng ra Phá Tam Giang. Nhân bất chợt nhìn quanh chiến hạm và vùng biển trời quen thuộc lòng chùng xuống buồn tênh nhận ra đây là chuyến công tác cuối cùng của anh trên HQ13. Bảy ngày vừa qua và những ngày ngắn ngủi sắp tới, âm thanh cuồng nộ của mỗi đêm về sáng yểm trợ hải pháo đưa anh tới rất gần với chiến tranh và rồi ý nghĩ về Giang đoàn nơi anh sắp đến ở đâu đó trong vùng Đồng Tháp Mười anh tuy chưa thể hình dung ra nhưng biết chắc ở đó mình sẽ thật sự chạm mặt với chiến trận hung hiểm máu me. Những ngày kế tiếp, chiến hạm nhích dần lên hướng Bắc, yểm trợ hải pháo trở nên thường xuyên đôi khi cả trưa chiều nhưng tầm bắn ngắn hơn nên mọi người xem đó như tin mừng. Đại bác 40 ly được xử dụng nhiều hơn, Huy phải chạy lên chạy xuống vừa “học nghề” bắn 76.2 ly với Nhân vừa dạy nghề bắn 40 ly cho sĩ quan mới. Nhân bận rộn làm việc nhưng trong lòng mãi vẫn vơ lẫn lộn cảm giác buồn vui của người sắp phải rời khỏi nơi tràn đầy kỷ niệm cùng với nỗi hạnh phúc sắp được gặp lại người yêu vài ngày trước khi “dẩn xác” xuống vùng Đồng Tháp Mười hung hiểm xa xôi. Tình cảm đó càng dâng trào từ khi Tom gọi từ Bộ tư lệnh Hạm Đội ra HQ13 ồn ào báo tin đã liên lạc MACV Đà Nẳng “chạy” được cho tôi một chổ ngồi trên chuyến bay về Sài Gòn. Tối qua Hạm Phó vui vẽ đưa cho Nhân tờ công điện Tom gởi từ Hạm Đội với ngày giờ chuyến bay và tên anh trên manifest cùng lời dặn đến MACV Đà Nẳng 1300H sharp để được chở ra phi trường. Ngày thứ 4 của chuyến công tác, sau khi xuống ca lúc nửa đêm Nhân chỉ ngủ được vài giờ đã phải choàng tỉnh vì hồi còi vào Nhiệm sở Tác chiến nghe gắt gỏng khó ưa lúc chưa đến 4 giờ sáng. Theo lệnh của Hạm phó, đại bác 76.2 ly yểm trợ hải pháo một vùng khá rộng trải dọc theo mạn Đông Bắc của quận lỵ Diên Sanh, Hải Lăng. Đại bác 40 ly cũng nổ dòn nhưng với tầm bắn ngắn hơn. Gần một giờ tác xạ dồn dập trôi qua, Hạm Phó gọi Nhân lên Đài chỉ huy, Huy thay thế anh ngồi vào ghế kiểm xạ của khẩu 76.2 ly sau khi giao dàn đại bác 40 ly cho Phong. Mùi thuốc ống vố Half and Half thơm tỏa khắp Đài chỉ huy làm Nhân tỉnh người. Hạm Phó nhìn anh châm điếu Capstan Trắng có đầu lọc cười châm chọc…Thiếu úy Nhân sắp về Giang Đoàn tính đổi gu, bỏ “Con mèo” theo “Cu anh phun sữa tại anh ngâm” hay sao đây!?... Tập quen dần đi là vừa, biết đâu lúc đó có tiền cũng không tìm ra Con mèo thì sao?...Nhân trả lời lúc Hạm Phó vừa lên máy với Sĩ quan Đệ Tam ở phòng CIC Truyền tin.  Anh báo cho Tiền Phương biết chiến hạm sẽ nhận đạn tiếp tế vào chiều nay nên sẽ tác xạ cầm chừng với số đạn còn trong kho cho đến khi bắt tay với HQ12. Hạm Phó quay nhìn Nhân đang dán mắt vào ống dòm nhìn theo hướng tay của người Đại úy Giám lộ về phía chiến hạm Mỹ đang nã đại bác, phóng hỏa tiển như sấm động làm sáng rền cả một góc trời chỉ cách HQ13 không quá hai hải lý về phía Bắc.  Được đó thằng em! Coi tàu Mỹ đốt pháo bông cho mãn nhản đi. Nhưng không sao, mấy ngày nữa chú mày rời HQ13 zulu xuống Đồng Tháp Mười chạy PBR bắn hỏa châu vung vít cũng vui chán...Hạm Phó cười… Chuẩn bị súc ruột đi là vừa, Hạm Trưởng đã OK đề nghị của anh mày buổi tối nghĩ bến đầu tiên sẽ tổ chức tiệc tiễn Thiếu úy Nhân ở cái nhà hàng nổi gì đó bên sông Hàn trước Bưu Điện. Đại úy Giám Lộ làm ra vẻ ganh tỵ.  Vinh hạnh quá ta! Đệ tử ruột có khác… Đó là Nhà hàng Liên Phượng, có nhậu ở đó một lần, chém tới nơi.  Nhậu mà vào đó bị chém là phải rồi. Phải vào quán Bê Thui ở đường Hùng Vương hay ngoài bãi biển Thanh Bình vừa quắc cần câu vừa rẻ…Nhân cười. Bình minh trên biển đến thật sớm. Chân trời màu tím thẩm loãng dần rồi rạng ngát lên chúm chím ánh hồng. Nhân thôi nhìn đoàn chiến hạm Mỹ, anh nhắm mắt lắng nghe tiếng đại pháo như sấm rền ngoài kia và tiếng 76.2 ly bắn cầm canh dưới chân mình. Chiều hôm đó Nhân lên ca sau giấc ngủ say bỏ cả cơm trưa và tiếng còi tan Nhiệm sở Tác chiến rúc lên một lúc nào đó xa vời như từ một giấc mơ. Anh đọc chỉ thị của Hạm Trưởng trên Nhật ký Hải hành, bắt tay với HQ12 để nhận tiếp tế đạn vào khoảng 5 giờ chiều. Nhân đo phương giác đoạn hải trình ngắn không quá năm hải lý hướng ra khơi từ điểm làm point sau cùng đến điểm hẹn ông chấm rõ ràng trên hải đồ. Anh vận chuyển đưa chiến hạm vào hải trình rồi loanh quanh chờ. Người thủy thủ quan sát mắt luôn dán vào ống dòm báo cáo vừa thấy HQ12 xuất hiện từ hướng Phá Tam Giang. Nhân ước tính khoảng cách hai chiến hạm chần chừ chưa muốn báo cho Hạm Phó vội thì đã nghe giọng ông oang oang.  Có tin vui đây! Hôm nay mình không cần bắn thêm trái 76.2 ly nào vào Diên Sanh nữa. Tiểu Ðoàn 3 Dù vừa tái chiếm quận Hải Lăng lúc 4 giờ chiều. Hôm nay, ngày 7-7-1972 là một ngày đáng nhớ. HQ13 ít nhiều cũng đang góp phần công sức. Mọi người trên Đài chỉ huy òa lên vui mừng. Nhân nghĩ đến hai ngày tới, thời gian cuối cùng ngắn ngủi của mình trên chiến hạm lòng len lấn chút cảm giác toại nguyện được góp mặt và chứng kiến chiến công của Quân Lực trong sứ mạng tái chiếm Quảng Trị, vùng địa đầu giới tuyến của Miền Nam. Phòng CIC Truyền Tin thông báo Hạm Phó có công điện của Bộ chỉ huy Tiền Phương. Ông phóng tầm mắt nhìn chiếc HQ12 đang rẻ sóng tiến gần rồi bước đến bàn Hải đồ liếc nhìn điểm hẹn. Vừa dợm bước xuống cầu thang ông chợt quay lại nhìn Nhân mỉm cười.  Thiếu úy Nhân nên lựa một vỏ đạn đại bác 76.2 ký tên viết ngày tháng lên nó đem về nhà làm bình hoa kỷ niệm thời gian ở HQ13 và ngày hôm nay, 7/7 Song Thất đó nha! Còi Nhiệm sở Vận chuyển vang lên. HQ12 chỉ còn cách chừng 1000 yards, tốc độ chậm dần. Nhân đứng nghiêm chào lúc Hạm Trưởng bước lên khoát tay, ngồi vào ghế của mình.  Giữ nguyên hướng chiến hạm, để họ cập vào. Bên dưới thủy thủ, nhân viên đứng lố nhố dọc theo boong chính tả hạm. Huy và hai sĩ quan mới đứng chờ Hạm Phó vội vã bước xuống từ Phòng Truyền tin. HQ12 lúc này đã cặp sát vào HQ13. Hai chiến hạm va lắc nhẹ vào nhau theo từng nhịp sóng biển. Cầu bắc qua hai boong sau cột chặc vào vị trí. Nhân viên sau một lúc đứng dọc theo boong tàu trò chuyện rôm rã bắt đầu rồng rắn vào hàng vận chuyển đạn từ boong sau HQ12 qua HQ13, chuyền lên boong mũi rồi từ đó xếp chúng vào hầm đạn bên dưới ổ súng 76.2 ly. Nhân chăm chú nhìn thủy thủ đoàn cần cù vui vẽ làm việc trong biển chiều lặng gió, lòng thầm nghĩ có lẽ còn phải lâu lắm anh mới được chứng kiến lại hình ảnh đáng nhớ này. Nhân bâng quơ nghĩ đến vài việc cần làm lần nghĩ bến cuối cùng ở Đà Nẳng. Đến nhà sách Sông Đà mua tặng người tình Văn Khoa vài tập truyện, ghé quảng phố dọc đường Hùng Vương mua mè xửng Huế làm quà cho người thân quen ở Sài Gòn. Chầu bia chia tay với nhân viên nhóm Trọng Pháo 76.2 ly ở bãi biển Sơn Trà, buổi tiệc tiễn đưa của Sĩ quan Chiến hạm bên Sông Hàn…Anh nén tiếng thở dài nghĩ đến buổi sáng chỉ mình anh đứng lại sau khi tháo sợi dây buộc cuối cùng quăng về phía người thủy thủ đứng trên boong vẫy tay chào. Người đứng lại trên cầu và con tàu lầm lủi ra cửa biển âm thầm trong sương sớm, có lẽ lúc đó cả hai đều cô đơn và buồn như nhau. Nhân biết nơi anh sắp rời đi có bóng một chiến hạm âm thầm ra khơi, mang theo phần đời lóng lánh kỷ niệm anh luôn giữ gìn trong tâm tưởng. Chiến tranh ở đây, từ biển nhìn vào, chỉ mới là âm thanh cho dù cuồng nộ. Còn nơi sẽ đến Nhân chỉ có thể mơ hồ mường tượng. Đồng Tháp Mười, nghe mông lung như một tiếng thở dài. Những dòng kinh bất trắc, những cánh rừng tràm đước nham hiểm nguy nan, những đoàn chiến đỉnh phóng như bay trên làn nước đục ngầu, vầng sóng chẻ đôi xô đẩy nhau trào cuốn vào bờ kinh đất dựng. Chiến trận ở đó, trong những đêm hun hút đồng bằng ánh hỏa châu lay lắt rọi dòng kinh chắc hẳn rạc rài máu me. Lòng lửng lơ như con nước đứng chờ ròng, anh một phút chạnh lòng nhưng ánh mắt nâu to sâu thẳm của người yêu như ngọn đèn chong soi thấu lòng anh. Có những cuộc rời đi không để phân ly mà để về nơi có cả quá khứ lẫn hiện tại. Về đi…Trái tim Sài Gòn có thể chứa cả ra đi và trở về. Anh nhớ nàng, nghĩ tới lúc anh bước qua cổng nhà, nàng đứng đó hiện hữu cười tươi với trái tim thủy chung mãi đập nhịp bồi hồi. (còn tiếp)

Phan Thái Yên

Mục Lục


5. Cứu Cánh


Bạch Liên

Hai hàng cây bên đường ngất ngư say nắng. Cành lá buông thõng như không còn chút sinh động nào, khi mà làn gió khô khàn cứ vô tình thổi ngang qua. Ôi thời tiết ơi… đành lòng nào sự chuyển động của không khí lại vô tình, không đèo bồng chút xíu làn gió biển trong lành, mang vào lục địa héo hắt, khắc khoải sầu lo. Chàng gió cứ nhàn du tung tăng, không mang theo một chút hơi nước ẩm ướt của những dòng sông ngọt lịm phù sa màu mỡ. Cho dù chỉ lưa thưa vài giọt nước hiền hòa !... Chàng gió ơi hỡi, gió có biết, phố phường và người dân hiền lành, đang mong chờ chàng gió bay bướm lướt qua. Như một cứu cánh cho hơi thở tốt lành và khỏe mạnh. *** Trước mắt tôi, cảnh vật rũ rượi với từng nét buồn bã hiện lên ở mỗi góc không gian. Khi nhìn cảnh vật không vui, chúng ta có thể suy diễn ra được tâm trạng của con người. Họ phải buồn trước - sau đó cảnh vật mới bị ảnh hưởng mà buồn lây. Câu thơ bất hủ trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du. "Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu. Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ". Đây là phản ánh quy luật tâm lý: Ngoại cảnh luôn mang màu sắc của tâm trạng. Khi cõi lòng trĩu nặng, vạn vật xung quanh dù rực rỡ đến mấy cũng hóa ủ dột, thê lương. JULY 24 - 2026

Bạch Liên

Mục Lục


6. Mất Còn Một Tình Yêu

Hiếu Thảo- Hương Dạ Thảo



Một Một buổi sáng mùa xuân thật đẹp, hoa nở chim ca vẫn còn ríu rít trên cành lộc biếc, gió cũng vờn giỡn trong nhiều giai điệu, của ánh nắng nhẹ nhàng và dịu dàng. Tết đã trôi qua hai tuần thời gian thật lẹ. Diễm Trinh đang sửa soạn để đi lễ chùa vào tháng giêng. Không khí mùa xuân vẫn còn thơm đẹp trong hơi thở, trong da thịt từng người. Nàng là cô gái bước vào mười bảy giàu mộng mơ và cũng được ba má cưng nhiều. Ba nàng là chủ huy trưởng quân đội của tỉnh thành Đà Lạt. Mẹ đang là giám đốc kiêm quản lý một thư viện. Nàng lớn lên cũng giống như một tiểu thư con nhà quý phái. Tuy nhiên cái giai cấp bây giờ là chính họ đi đánh đổ cái giai cấp để mà dành lại một chế độ mới, thời đại mới. Song bây giờ người ta vẫn có từ mới dành cho các cô cậu, với những danh từ,hay cụm từ, thuật ngữ, cũng giống giống như chế độ ngày trước thôi, đó là cô cậu nhà tư bản đỏ. Ngày trước là con nhà tư bản, chừ là con nhà tư bản đỏ . Vậy thì chỉ thêm chữ đỏ phía sau thôi. Suy về mặt ý nghĩa cũng là như nhau, sung sướng, giàu có, quyền lực, và tự do vậy thôi. Diễm Trinh đang quệt phấn vào mặt, tô môi thêm màu đỏ mận cô thích và kẽ thêm đôi lông mày cho cong hơn, cô nghêu ngao hát: Hôm nay em đi chùa Hương. Hoa cỏ còn mờ hơi sương. Cùng thầy mẹ vấn đầu soi gương... Nho nhỏ cái đuôi gà cao. Em đeo cái dải yếm đào. Quần lĩnh áo the mới. Tay em cầm chiếc nón quai thao. Chân em di đôi guốc cao cao. Đường đi qua bến Dục. Mọi người ngắm nhìn em. Thẹn thùng em không nói. Em bây giờ mới tuổi mười lăm. Em hãy còn bé lắm mấy anh ơi. Đường đi qua Đồng Vọng. Mọi người ngắm nhìn em. Thẹn thùng em không nói. Nam mô A Di Đà. Nam mô A Di Đà Mẹ nàng Diễm Thanh lên tiếng hối: - Đi chùa nhanh lên con, còn ở đó vui sướng với bài hát. Mình trễ quá coi không được. Bà đang thay đồ xong ngồi ghế dựa đợi con gái. Diễm Trinh lật đật nhanh nhảu đi mang thêm đôi guốc nàng thích, áo dài thì nàng đã mặc rồi, và chuẩn bị bước tới trình diện với mẹ nơi phòng khách: - Má thấy hôm nay con đẹp không? - Tất nhiên là con đẹp rồi. Nhưng có chấm chàng rể nào cho mẹ chưa nè? - Chưa mẹ à, nhưng tình yêu mà mẹ thích cũng chưa chắc được, muốn cũng chưa chắc xong. Do duyên nợ và tiếng sét ái tình hết thôi mạ. - Cha con gái mẹ mới mười bảy tuổi mà nói năng triết lý tình yêu chuẩn quá ta. Nhưng chọn tấm chồng thì phải khôn lên chút chứ. - Con hã người yêu chưa có, chồng con gì mẹ hè? - Thì mẹ nói xa xôi vậy thôi mà. - Mẹ à lỡ con yêu một người nào đó đẹp trai, hết sức là đẹp vậy đó. Nhưng hoàn cảnh nghèo rớt mồng tơi mẹ có gả cho con không. - Chỉ có nơi ba con thôi. Chứ mẹ nói xa xôi cho vui cửa vui nhà. Riêng con mà ưng thích, yêu ai, rồi người đó yêu lại con 10 trên10 là mẹ đồng ý thôi. Vì là niềm vui của con, mẹ coi như niềm vui của mẹ vậy đó. - Hoan hô mạ nha. Con hiểu ý mẹ thương con lắm. Vái ông trời được như vậy cho con mừng. - Thì hôm nay rằm tháng giêng mẹ con mình đi chùa đầu năm cầu nguyện nè. Thôi sao bây giờ mẹ con mình đi được rồi chứ? - Dạ được, con sẵng sàn rồi. - Vậy nhá let’s go nha. Diễm Trinh nhìn mẹ đứng lên rời ghế và cùng nàng rời nhà… Mẹ Diễm Trinh, Diễm Thanh mặc áo dài đi lễ rằm tháng giêng năm nay lần này cũng thật đẹp. Nàng nhìn mẹ xốn xang muốn nói gì đó, nhưng cần đi gấp nên nàng lại thôi im luôn. Lẽ ra Diễm Trinh có thể lái xe đưa mẹ đi. Nhưng mà mẹ đã thích đi bộ để đón xe bus cùng đi với bao người. Họ sẽ đến một ngôi chùa nằm sâu trong núi, và có thông reo bốn bề nhiều suối, được chia rẻ ra nhiều nhánh. Thật ra ngôi chùa này được thành lập khá lâu. Nhưng cũng có một vài lý do nào đó mà phật tử đi đến không đông lắm. Họ chỉ đi vào hai rằm, tháng bảy và tháng giêng là đông hơn. Những lễ khác thì vắng và ít ỏi. Nói như vậy là ít, vắng vẻ hơn thôi, không sầm uất và đi đụng chân như các ngôi chùa khác ở Đà Lạt thôi. Tuy đường đi đến chùa đã không còn gồ ghề hay vất vả khó khăn gì lắm. Và như đã được mời đón, không còn một hướng đi đến, mà đã ba bốn hướng đi đến chùa Hưng Tịnh... Lần đầu tiên theo mẹ đi chùa này, cho mẹ muốn nơi ý tưởng trong dịp này. Diễm Trinh theo mẹ cùng bao khách bộ hành đón xe bus để đi. Từ nhà nàng ra xe bus quá gần và từ xe bus đến cửa chùa cũng không xa lắm, mà chỉ khoảng độ là nửa tiếng thôi, tuy họ có dừng lại thêm hai nơi nữa để đón khách. Ngôi chùa tọa lạc nằm sau rặng trúc, chung quanh khuôn viên chùa thì có những tượng Phật và hoa tuy không nhiều lắm… Đi lên trên hơn là một cái đồi nhỏ lộng gió, và có đi qua những rặng thông dày dặn, rồi dần hồi thưa thớt dẫn đến đồi. Bên phải hông khu viên chùa có hồ nước rộng chạy dài gần giáp với mặt diện phía trước. Bên trái là những lối mòn vô rừng sâu hơn. Lần đi đó Diễm Trinh bắt gặp chú tiểu đúng hơn là không còn chú tiểu nữa, vì chàng không còn nhỏ nhít để gọi chú tiểu. Nàng đoán chàng chừng khoảng đang 18, hay 19 tuổi gì đó thôi. Và được gọi là ứng pháp sa di, hay một sa di gì đó nàng cũng không giỏi lắm về cấp độ kêu của người nam tử đi tu. Thỉnh thoảng nàng thấy chàng đi đánh chuông ngân lên hoặc lo việc trà nước cho khách, hoặc là bận bịu cho bao việc linh tinh không ngớt. Cuối cùng nàng có thấy là chàng ngồi thiền, nhưng chàng cầm một quyển kinh đọc. Nàng để ý đến người con trai đó, khuôn mặt thật là dễ cảm, tướng tá thật là đẹp trai người cao ráo, da trắng, môi son, mắt sáng mũi thẳng, nàng đem lòng lưu luyến ưa nhìn dung nhan đó. Chàng thì dửng dưng không để ý mấy. Nhưng riêng nàng đã bám theo sát nút còn hơn một thám tử ghé mắt vào phòng chàng, để ý hình như chàng có treo cây đàn ghi ta nữa? Nàng ngạc nhiên lẫn trầm trồ. Ôi chàng đi tu sao đẹp trai quá còn biết chơi ca nhạc. Vậy là chàng quá đáng để mình ngưỡng mộ. Và rồi nàng cùng mẹ được viếng thăm chùa Hưng Tịnh cùng bao người con nhà Phật tử khác. Tất cả đều làm tròn nghĩa vụ của một con người Phật tử đi rằm tháng giêng. Nghĩa là khách vãn lai đến dâng hương, dâng lễ cúng Phật, phóng sanh, xin xăm cầu nguyện, cầu an v.v. Hai Về nhà nàng một hôm thích nói chuyện với mẹ. - Mẹ ơi con muốn hỏi mẹ nhiều chuyện mẹ giải thích con nghe nghen. - Chuyện gì con? - Tại sao nhạc của miền Nam VN CH lại nhiều người yêu chuộng và con cũng có cảm tưởng rằng con thích hơn. Nhạc mà ba con, ông nội con, cô chú con đã mang súng bắn phá, đi chống lại họ, giết chết họ, lật đổ chính quyền họ. Để bây giờ ai cũng muốn nghe và hát nhạc họ là sao mẹ, hở mẹ? - Nhưng con vẫn thường hát bài đi Chùa hương, Huế Thương. Chim én mùa xuân. Cũng là nhạc của cách mạng của nhạc sĩ chúng ta đó mà. - Có nhưng không nhiều mẹ ạ. Thật xấu hổ khi ta đánh họ mà thèm ca nhạc của họ. - Ôi sao hôm nay con hỏi má nhiều điều rắc rối thế. - Còn nhiều điều con muốn hỏi má. Nhưng hôm nay con muốn hát một bài này cho má nghe, để thử má có thích không nghen? Đó là nhạc của Miền Nam Quốc Gia CH… - Bài gì con gái? - Nắng Chiều đó mẹ. - Ồ con hát thử đi mạ nghe. Diễm Trinh bắt đầu hát. Thật ra Diễm Trinh là cô gái xinh đẹp hiền lành lại biết làm thơ và hát hay. Nàng vẫn là con mọt sách luôn. Nàng bắt đầu với lời ca tỉ tê tha thiết: Qua bến nước xưa lá hoa về chiều, lạnh lùng mềm đưa trong nắng lưa thưa, khi đến cuối thôn chân bước không hồn Nhớ sao là nhớ đến người ngày thơ. Anh nhớ trước đây dáng em gầy gầy. Dịu dàng nhìn anh đôi mắt long lanh. Anh nhớ bước em khi nắng vương thềm. Má em mầu ngà tóc thề nhẹ bay. Nay anh về qua sân nắng, chạnh nhớ câu thề tim tái tê, chẳng biết bây giờ, người em gái duyên ghé về đâu. Nay anh về nương dâu úa, giọng hát câu hò thôi hết đưa, hình bóng yêu kiều, kề hoa tím biết đâu mà tìm. Anh nhớ xót xa dưới tre là ngà. Gợn buồn nhìn anh em nói:Mến anh. Mây lướt thướt trôi khi nắng vương đồi. Nhớ em dịu hiền nắng chiều ngừng trôi… - Ồ bài hát hay thật chứ ta. Diễm Trinh dứt câu ca mẹ nàng đã lên tiếng. - Con nói má rồi mà nhạc bên VNCH là tình ca trăm bài hay cả trăm rưởi. - Hay do cái miệng con nói quá kìa. Một trăm bài hay cả trăm rưởi là sao? - Thì con thấy nó hay quá sức nên nói chơi vậy mà. - Ba mày ổng nghe mày nói vậy ổng la chết. - Không, mẹ à con thấy ba có nghe nhạc họ đó mẹ. - Thiệt không? - Có mà. - Má có thể tin. Mấy ổng nói vậy chứ ông nào cũng thích nghe. - Thì đó con đã nói với má mà. Chủ trương đánh người ta, mà nghe nhạc người ta mê luôn mới lạ chứ. Im chỉ hai giây. Nàng lại cười ngây thơ: - Thôi con bỏ qua chuyện này hỏi mẹ chuyện khác vui hơn. - Chuyện gì nữa? - Ồ má ơi má có thấy anh chàng sa di đẹp, đẹp trai ở chùa đó như thế nào? - Tại sao con hỏi mẹ chi vậy? - Thôi má khỏi trả lời đi. Con chỉ hỏi chơi thôi. Ba Một lần khác nàng tự mình lái xe đến đó. Ôi một chiều thật là thơ mộng mới qua rồi của mùa xuân, bắt đầu muốn chớm hạ. Chớm hạ thì cái đẹp của khí hậu sôi nổi, bừng sinh, hấp lực lắm. Nàng cố bắt gặp được chàng, và trao cho chàng một cánh thư. Rồi hẹn hò: Lá thư nàng gởi tặng: Tình yêu đến lòng ta bất chợt Nghĩa yêu đương cháy rực nơi lòng Thôi còn chi nữa mà mong Tình chưa ước hẹn mà lòng nhớ thương. Tình đã vướng làm sao cắt bỏ Giọt lệ cay mắt đỏ từng đêm Hỏi ai hiểu được nhân duyên Làm sao giải được ưu phiền nơi em Từ ngày tương ngộ ai đem ướm mộng Gió trăng về lồng lộng bóng ai Thương nhau dấu ái hình hài Khóc nhau mấy bận, trang đài còn không… Em Mong ước Em và anh dắt nhau đi tìm hoa dại Vào rừng mơ để tìm dấu mặt trời Đưa hồn về tận chốn biển khơi Tìm hương mật trong từng tia sóng nước Ai đã bảo tình ta là kiếp trước? Tình cho nhau không phụ bạc ân tình… Đẹp làm sao bằng những buổi bình minh Lòng tự hỏi để cùng chia nhau mấy bận Rồi trang điểm, rồi âu yếm nhau phấn chấn Rồi hái cuộc tình chín mận ở nơi tim Yêu mê say trong hạnh phúc đi tìm Để đón nhận nhịp thở đời sung sướng Chốn nhân gian ta nhận được nhiều phần thưởng Thì mọi nghi ngờ sẽ tan biến dưới sương mai. Tình yêu ơi em đã cho ai. Tình yêu ơi ngọt mật sông dài… Ngọc Dinh lần đó đọc thơ nàng, chàng xúc động loay hoay bối rối nhưng đã hồi âm. Thơ gởi người con gái Diễm Trinh. Anh cám ơn em, đã để ý về anh làm thơ cho anh và yêu anh. Hai bài thơ rất hay anh đọc cảm thấy vẫn thích về dư âm, và nội dung nó. Nhưng anh phải biết làm sao hơn đây, khi anh đã chọn con đường tu hành khổ hạnh. Diễm Trinh em ơi. Em có biết rằng cuộc đời nơi anh đã trải qua: Từ lúc mới chào đời lọt ra từ lòng mẹ, và hình như mới được mười tháng thôi em, anh đã phải xa mẹ, và anh ở chùa ăn cơm chùa, và học chữ ở chùa, anh đã trải qua khôn lớn nhờ nơi chùa bảo bọc dạy dỗ anh nên người. Nay nhận được thơ em làm anh xót xa thương em, và lòng anh cảm kích bối rối vô cùng. Nhưng mà làm sao đây em ơi, anh đã suy nghĩ trong nhiều đêm. Anh ví coi như kiếp này anh đã lỡ nợ em rồi. Hứa kiếp sau anh sẽ trả hết cho em… Xin em tha thứ cho anh. Ngọc Dinh tự là Nhất Nguyên. Nàng nhận được thơ hồi âm của chàng, Diễm Trinh buồn đau và viết lại cho chàng bằng một cánh thư khác thêm nữa: Anh yêu Thương! Anh Ngọc Dinh yêu thương của em. Anh có biết là nơi lòng Diễm Trinh buồn bã không? Anh có biết là em đau khổ biết chừng nào lắm không?Khi nhận được thơ anh, em tái tê cả cõi lòng tan nát đi mất. Em như muốn chết đi chứ chẳng còn muốn sống ý nghĩa là gì. Tại sao duyên tơ vì đâu, em thầm trách ông trời, bởi sao duyên kiếp em quá phũ phàng để trao trái tim về anh, nhưng anh lại dửng dưng để làm trái tim đó rỉ máu ân tình, và anh không tội nghiệp cho em sao. Em biết nói thế nào cho anh hiểu hơn đây, thông cảm cho nỗi niềm cho người con gái trót dại vì ái tình, vì tâm tư quá yêu anh đây. Anh ơi. Anh Yêu thương Thôi thì em chỉ còn mong anh một điều là, dù cho mai này chúng ta cách trở hai nơi, dù xa cách quan san, dù mai này nơi em và anh, chúng ta không được thắm dây tơ hồng, em không được anh yêu thì em mong anh cho em một ân huệ. Nghĩa là em được gặp anh một lần và chỉ một lần thôi em cũng mãn nguyện. Cho em được gặp anh nơi đó trên đồi rừng thông sau lưng chùa Hưng Yên em sẽ ngồi bên anh, và em sẽ hát cho anh nghe vài bản tình ca để em vui buồn với kỷ niệm nhớ anh trong cuộc đời em. Anh ơi anh vẫn có thể đàn cho em nghe một lần nơi đó, dù cho tình em nơi đơn phương… Em đã thấy anh có cây đàn guitar nơi phòng anh. Thì cố nhiên anh biết chơi đàn guitar mà. Xin anh tha thứ, em đã yêu anh và cố tình biết những gì anh có khả năng một người con trai đã khiến em nặng lòng tơ tưởng... Thôi thì anh cho em một ân huệ đó, em không nghĩ làm khó anh đâu. Như thế em cũng vui và đủ một mãn nguyện nơi lòng ấp ủ. Vậy nhé anh em xin anh thương em và để cho em còn sống nơi cuộc đời này vẫn còn một chút ý nghĩa. Em người con gái trót yêu anh và tự làm khổ trái tim mình. Diễm Trinh. Khi nhận được thư Ngọc Dinh lần thứ hai nằm suy nghĩ buồn bã, gối tay trên trán trăn trở như muốn xao lãng cả việc học hành kinh kệ, xao lãng cả việc nghi thức nơi chùa, chàng từng năng nổ và làm việc. Ngọc Dinh có cảm giác chàng như chưa yêu nàng người con gái gởi thơ than thở kia. Nhưng chàng cũng động lòng thương một cô gái lòng son trẻ đã có cảm tình dành cho chàng nhiều. Và rồi chàng tự đặt ra câu hỏi có nên gặp nàng như nàng mong đợi không. Ôi Diễm Trinh, Diễm Trinh một cái tên khá dễ thương và mặt mày khá tươi đẹp nơi nàng. Song trong tim chàng chỉ rung động bằng tình cảm con người, chứ về tình yêu, về ái tình thì chàng chẳng có, không có. Và rồi công việc nghi thức chàng vẫn thường ngày làm cho chùa Hưng Tịnh, quét dọn, sửa sang hoa quả, cơm nước, châm trà, đốt hương lên đèn, thỉnh chuông cho thầy xong, trời đã ngã về chiều chàng gắng tranh thủ lội vào nơi đó. Thế là hai người được gặp nhau. Diễm Trinh đã lái xe honda 50 phân khối đến đó và giấu khuất sau rặng thông để lên đồi gặp chàng. Nàng khóc than khi mà chạm mặt hỏi chàng, hình như những giọt nước mắt phải ứa trào nơi Diễm Trinh đã giấu kín: - Anh ơi tình yêu vốn làm cho người ta đau khổ. Nhưng tại sao em lại yêu anh để nhận lấy khổ đau như kiếp nhện giăng tơ kia hã anh? Tại sao em đi chùa để gặp anh làm gì hã anh? Ngọc Dinh vẫn trấn tĩnh và trả lời: - Em à anh cám ơn em đã có tấm lòng chân thật với anh, nhưng anh đã đi tu rồi. Thì làm sao anh yêu em được. Anh đi tu mà đem lòng yêu em là có tội. Nếu mà anh ở ngoài đời anh sẽ yêu em liền thôi. Ngay cả em yêu anh em cũng mang trọng tội, Diễm Trinh ơi em nghĩ lại đi. - Tình yêu là duyên nợ mà anh. Em chẳng có tội gì cả anh cũng không tội tình chi cả. Mình yêu nhau là đem đến hạnh phúc cho nhau, em đâu cố tình đi ám sát anh, hoặc anh cố tình để đi giết em mà nói có tội anh? Câu trả lời của một người con gái thơ ngây và hồn nhiên thật đáng yêu, nhưng chàng vẫn phớt lờ giải thích: - Trên đời này gây ra tội lỗi nhiều cách khác nhau, nhiều sự kiện hoàn cảnh khác nhau. Em chưa hiểu hết cội nguồn gốc rễ của tội lỗi. Em cứ nghĩ đơn giản một chút về em. Em có thể gặp nhiều người con trai đẹp hơn anh, và sẽ yêu em hơn anh, đem hạnh phúc cho em hơn anh. Vậy thì sẽ tốt hơn cho em. - Em yêu anh rồi anh lại biểu em đi chọn người khác là anh tàn ác với em. Chắc em không xinh đẹp làm anh không rung động đứng trước anh thôi, và ở trong đôi mắt anh thôi. - Không không phải vậy em. Em xinh đẹp lại hiền lành, rồi biết làm thơ biết hát hay thì quả là một hạnh phúc tuyệt trần cho anh chứ, nhưng chỉ vì anh là một sa di và anh là một sa di mà thôi. Anh không có cái quyền để yêu em. - Anh đi tu là học điều bao dung bác ái thương người, đi tu là làm những điều hiền đức cho nhân loại này mà. Vậy em tỉ dụ có một tiếng khóc của em bé anh nghe được, anh không thương, anh không nặng lòng xót xa, không cảm động cho em ấy khóc sao? Chàng không hiểu ý nàng lắm, mà vội hỏi: - Em nghĩ sao mà em bảo thế. Dĩ nhiên là động cảm khi nghe tiếng khóc em bé chứ? Nàng lại nói: - Vậy sao anh không thương em, khi em buồn khổ khóc than hã anh? Chàng ỡm ờ bảo: Ngọc Dinh Nhất Nguyên này đã vì đi tu, là em biết phải quên hết cõi nhục dục của thế gian, đã hy sinh vì đạo pháp làm sao anh có thể… Hã Diễm Trinh em ơi… Nàng lại nói: - Anh vốn muốn đem lại vạn điều hạnh phúc cho tha nhân? Sao chỉ một điều hạnh phúc tình yêu cho em anh nỡ chối từ. Trời ơi… Người đâu gặp gỡ làm chi. Trăm năm có biết duyên gì hay không ? - Ô hay em lại đọc thơ Đoạn Trường Tân Thanh - Truyện Kiều để trách cứ anh. - Ủa sao anh Ngọc Dinh biết Truyện Kiều vậy hã anh? - Anh có quyển đó. Khi anh trưởng thành năm rồi lên 18 Thầy cho anh đọc để giải trí thơ văn thôi. - Vậy là anh quá am tường mọi thứ, chỉ vì anh tàn ác với em. Anh không đem lòng để mà yêu em thôi. - Nhưng mà em đã nói anh gặp em để nghe em hát và dù sau đó xa nhau em lấy làm kỷ niệm thôi mà. Vậy thì mọi yêu cầu em đã đi xa hơn lời em nói quá nha. Ngọc Dinh mới cười tươi chọc nàng, nhưng rồi lại buồn. Và chàng tự động buồn bã nhìn trời đã sắp vào đêm nơi đây. Sau đó nàng hiểu ý chàng, nàng gục đầu muốn hát cho chàng nghe. Nàng bảo: - Đúng rồi anh hãy cho em hát một bài bên anh và coi như em cũng mãn nguyện, em không đòi hỏi hơn đâu. Nàng hát bài: Ngày Xưa Anh Nói. Ngọc Dinh có đàn guitar và tự đệm đàn hát theo nàng vài đoạn như ý nàng thích: Xin trích bài hát hay này: Ngày xưa anh nói: "Anh thương có em thôi không ai ngoài em nữa"!Ngày xưa anh nói: "Em như áng mây trôi, theo anh về cuối trời!" Muôn kiếp xây đời, dựng lều hoa bên suối, sống cho nhau mà thôi. Những lúc sương chiều rơi, và khi gió lơi, rồi mùa đông băng giá em không ngại đơn côi. Ngày xưa anh nói: "Không mơ ước cao sang, hay cung vàng gác tía" Ngày xưa anh nói:Anh mơ có em thôi, cho tim hòa tiếng đời." Đôi bóng chim trời quyện vào nhau bay mãi tới phương xa nào đâu, đón ánh sao tình yêu, buồn vui có nhau, để ngàn câu thương nhớ xanh thắm màu nhớ thương Thời gian đi qua bao mùa trăng, ở chốn phương trời xa, anh đi mãi chưa về, em đây vẫn trông chờ.Từng đêm trông sao nhắc tên anh. Sao ơi! sáng ngời thêm, soi qua lòng đất mẹ, lạy buồn thôi não nề. Ngày xưa anh nói: "Tuy xa cách đôi nơi, nhưng hai người một lối." Ngày xưa anh nói: "Em ơi, có chia phôi mới biết tình lâu dài."Anh hãy quay về... Sương khói tan rồi. Đẹp mùa vui xác pháo thắm tung trên thềm hoa, những gió mưa buồn xưa chìm theo giấc mơ, trọn đời cho thương nhớ, muôn kiếp tròn nhớ thương. Sau thì Ngọc Dinh tự ca anh thích là bài Tình Bơ Vơ. Anh hát và đánh đàn guitar một cách say mê… Anh dứt bài ca xong, anh nhìn nàng. Diễm Trinh lại mỉm cười hỏi: - Ủa sao anh biết nhiều nhạc tình thế. - Thầy cho anh hát mới vài năm nay thôi để giải trí cho vui. - Ô vậy thì nơi chùa này cũng cấp tiến quá mà anh. - Chỉ là giải trí nhạc hay thôi em. Còn phải giới luật là vẫn giữ nguyên, trau dồi phẩm hạnh chứ. - Em hiểu… Nhưng cũng có bao ni cô hoặc sa di bỏ chùa về với đời mà anh. - Chuyện đó là không tránh khỏi khi họ hết duyên nơi chùa, nơi cửa Phật thôi. Nhưng anh không muốn mình như vậy đâu Diễm Trinh. Nàng bỗng từ đâu buồn và muốn rơi nước mắt để khóc nữa. Chàng xót lòng đem lời năn nỉ: - Thôi đừng buồn em ạ để anh coi lại thôi. - Thật không anh? - Nhưng nếu anh ra chùa thì mình sống làm sao đây hã em? Thiên hạ sẽ đồn thổi về em và anh rất nhiều. - Đã là tình yêu em và anh sống cho chúng ta mà thôi, Không cần ai khen chê, hoặc là quan tâm quan tưởng chi cả. Nè anh ơi ba má em giàu có, em sẽ tìm cách giúp anh, giúp cho tình đôi ta. - Nghĩa là sao em Diễm Trinh? - Em có vàng má em cho em, em có nhà bank riêng mình sẽ trốn đi lập nghiệp chứ sao. Em cả đời này yêu anh và chỉ thích sống bên anh mà thôi. Dù phải vào chốn nơi nao, thâm sơn hay cùng cốc… - Cám ơn em đã nghĩ đến anh nhiều. Thôi thì anh cũng đã xao xuyến khi gần em đây. Anh nghĩ anh cũng đã yêu em rồi. Nghe chàng nói, nàng vui sướng ngã người vào vai chàng và ngồi vào lòng chàng hôn lấy hôn để. Chàng như bị kích động quá đứng dậy bồng nàng lên tay mình và để bứng nàng đến một chỗ khác ngồi thêm. - Cám ơn anh cám ơn anh em sung sướng lắm, sung sướng như muốn chết được bên anh nè. Trăng đã lên cao, hai người ngồi bên nhau tình tự thêm. Gió như lao xao, cây lá như sột soạt, màng đêm rung động mập mờ như trao về cho họ, một món quà thật tuyệt diệu… Họ đâu nghỉ rằng khi ái tình đã làm cho họ quấn quít, say nồng và rồi đón nhận dễ thương như thế đó… Bốn Lần thứ hai cũng một đêm trăng thanh của mùa hè. Diễm Trinh tiếp tục lái xe hẹn chàng đến điểm đó, như lần trước sau chùa, nơi đi qua một thung lũng, rồi đến gần khu đồi lộng gió... Lần này nàng cố tình đã mua cho chàng một chiếc áo sơ mi màu cam hồng và quần tây nâu. Để chàng thay cho bộ độ tu hành chàng thường mặc áo nâu lam kia. Nàng bảo khi gặp: - Nè anh Dinh ơi, anh đi thay bộ đồ này đi, anh sẽ đẹp trai như một hoàng tử. - Vậy sao em muốn hã?Anh đi thay nghen chỗ nào hỡi em? - Em không nhìn đâu mà. Anh cứ đi đến chỗ nào gần tiện thì cởi ra thay đi. - Nhớ không nhìn anh nha. Nếu em nhìn anh không mặc lại được đó. - Hi hi. Em hứa mà. Nàng đã mỉm cười chân thật và đáp. Chàng rảo quanh một nơi kín đáo, đi vào hố thấp thung lũng sâu hơn, có những tàn thông che chắn, và nán lại nơi đó nhìn rồi chàng phải làm, như dạn dĩ ra, để đi thay cho bộ đồ. Dinh tự ngắm nghía và ngượng ngùng tý đỉnh, vì từ nhỏ đến giờ Dinh chưa mặc đồ kiểu như vậy. Nàng ngồi chờ chàng. Diễm Trinh vẫn mỉm cười bâng quơ. Một chốc sau chàng trở lại nàng thấy chàng đẹp thêm bội phần, dù dáng dấp chàng chưa được tự nhiên cho lắm. - Đó anh tin không bây giờ anh đẹp lắm. Nàng bảo. - Nhưng anh chỉ thấy anh mặc đồ tu đẹp thôi. - Anh thấy không bằng em đâu. Anh giờ đẹp hơn em nhiều chứ, nếu so sánh đôi ta. - Em là cô gái đẹp nhất mà, không thua ai đâu. Nhưng mà nét của em giống ba hay má vậy Diễm Trinh? - Em giống em nhất thôi. - Em trả lời hay ghê. Chàng cười tươi nhìn nàng. - Thì em giống em nhất mà. Tin em đi. Hi hi. - Anh phải chào thua câu em trả lời thôi. Chàng đã ngồi xuống bên nàng. Tay vẫn còn cái bọc nhựa màu tím có bộ đồ anh thay ra và xếp vào trong đó. Và anh đã để hờ bên cạnh mình. Dinh đang nghĩ ra một chuyện để lên tiếng: - Diễm Trinh ơi. Cho anh hỏi em nhé. Em ơi, em yêu anh, ba má em có chịu không? Có vui không? - Em thương anh là thương một nam tử đi tu đẹp trai hiền hậu, chứ em có thương một kẻ lưu lỏng trộm cướp đâu. Ba má em sẽ chịu thôi mà. Làm sao không vui được chứ. Cứ tin em đi anh. - Em kể má em làm giám đốc ở thư viện chắc trong coi quản lý sách và công nhân làm việc chu đáo và chắc còn thời gian tha hồ đọc sách nhiều há. Còn ba em thì sao hã em? - Lúc trước má em từng làm trưởng phòng, chủ tịch kiêm giám đốc quản trị một của hàng mua bán vàng bạc đá quý, vì đó là cơ ngơi tiền thân của ông ngoại em. Sau này má chán chỗ ganh đua hiềm tỵ, má đã muốn về thư viện cho yên tĩnh hơn và má em cũng mê đọc sách. Còn ba em danh nghĩa chỉ quản lý quân đội của tỉnh, tối ngày chỉ thích đánh cờ uống rượu thôi. - Vậy là ai đi lính hoặc không đi lính trong tỉnh ba em quyết định hã? - Em không rành lắm, chỉ thấy ba soạn thảo công văn chỉ thị đưa về các huyện, và ông có đi gặp các người ở huyện đội hay ai đó em không quan tâm nhiều về chức năng nơi ba. - Vậy hã em? - Ừa anh. Bây giờ nói về mình thôi. Vậy là cuộc sống mình sắp sang trang anh nhé. Chúng ta sẽ trốn đi để sống cho nhau trước hết. Xã hội này từ xưa đến giờ, nhiều người yêu nhau và trốn đi lập nghiệp nhiều mà anh. - Anh hiểu ý em. Thương em quá anh đã liều không biết về sau ra sao? - Mình lập nghiệp anh à, em cũng có số tiền lớn và vàng bạc cho chúng ta mua gạo thóc mà… Đó là lần nói chuyện cuối cùng để họ thực hiện ước mơ. ** Ngọc Dinh định viết một lá thơ cho thầy chàng viết xong nhưng mà không dám gởi. Lời trong thư chàng viết là: Kínk thưa thầy. Thư con gởi đến thầy. Con là Ngọc Dinh pháp danh tự là Nhất Nguyên. Con xin thưa thầy một chuyện, mà lẽ ra con không dám can đảm để nói thưa cùng thầy. Và con vẫn biết là con rất đau lòng khi con viết thư cho thầy, để tâm tình một điều, mà điều đó là một điều sai phạm, hư đốn, lạc lối nơi giới luật. Khi mà con đã ra đi… Thầy ơi con biết nói thế nào cho thầy hiểu. Và con biết bao năm qua thầy và các sư vãi nuôi nấng con lên người sống dưới mái chùa, niềm hạnh phúc nơi con là đã quy y thọ pháp. Nhưng mà ngày hôm nay duyên nghiệp con lại đi về một nẻo khác… Con vì tình yêu một người con gái và con đã vì ái tình. Vì ái tình đã làm cho con sống lại một mảnh vườn vì ái ngữ, vì bản ngã. Ngày xưa con lớn lên và giác ngộ phập pháp đi tu là tìm về cõi an lạc niết bàn, thanh thản quên mình nơi chúng sanh tục lụy, và con hằng tâm quên hết mọi hạnh phúc tầm thường, cũng như ưu phiền của thế gian mà cuộc đời nhân gian gặp phải. Con đã tôn thờ Phật pháp và giữ gìn ngôi tam bảo. Con đã xuất gia trong trách nhiệm và bổn phận. Vậy mà đến hôm nay con đã thưa thầy… Vâng con đi yêu một người con gái, con đã chạm tay hái một quả cấm nơi lòng…Vâng con đã biết yêu, và đi yêu một người con gái xinh đẹp hiền lành nhân ái, để tô điểm cho cuộc sống chúng con. Thưa thầy thôi thì xin thầy hãy tha thứ cho con và người thiếu nữ con nặng lòng đón nhận tấm lòng nơi nàng. Đội ơn thầy. Con Ngọc Dinh. Nhất Nguyên… Thật sự Ngọc Dinh cũng không biết mẹ chàng là ai ba chàng là người như thế nào. Tại sao họ bỏ rơi chàng nhưng thật sự, Ngọc Dinh đã lớn lên theo thời gian ở chùa rồi đi tu, và chàng muốn bỏ qua để tỉnh lặng tu hành mà thôi, chàng không nghĩ gì khác hơn cuộc đời gắn liền với căn tu và thọ giới... Thật ra Ngọc Dinh con của một người cha cấp bực là Trung úy nhưng là đi cải tạo năm 1980, tức là sau 5 năm thành phần thân cộng Bắc Việt đã chiếm cứ miền Nam hoàn toàn. Anh trung úy Ngọc Bảo mới nhận lịnh đi học tập cải tạo, Nguyên tắc là ban đầu họ tha cho, vì anh còn rất trẻ, Sĩ Quan Đà Lạt mới ra trường, song sau rà sót lại công anh có nhiều thành tích cho chính quyền quốc gia Miền Nam, nên lệnh mới người chiến sĩ trẻ đó vẫn phải ra đi cải tạo tận Miền Bắc, nơi núi rừng xa xôi kia, khi chính sách bên thắng cuộc đưa ra. Và rồi bị trải qua cực khổ, anh không chịu nổi đã chết đi. Mẹ Ngọc Dinh là Lệ Trâm đúng vào thời điểm lúc đó lại mang bầu cũng vào năm 1980. Mẹ anh vừa sinh anh ra thì lại muốn vượt biên, vì có dịp, có chuyến mời tham gia để đi, đi có con mang theo thì khó khăn vất vả, và nguy hiểm khó an toàn trôi chảy cho việc. Mặc khác Lệ Trâm không muốn ở lại với chế độ tàn độc, đối với cái chết vô lý của chồng nàng. Và còn về nàng tương lai chắc sẽ mù mịt. Nên Lệ Trâm quyết định đành ngậm đắng gởi Ngọc Dinh lại cho một người bạn của Ngọc Bảo nuôi nấng ở trong chùa. Để Lệ Trâm ra đi dù bà nghĩ là đã sai với con thơ, nhưng mọi sự bên đời ai mà trọn vẹn được khi hoàn cảnh bắt buộc. Và người bạn ở trong chùa đó tên là Võ Toàn tự là Nhất Tâm - Vốn dĩ chàng là bạn thân của trung úy Ngọc Bảo lúc còn học sinh, chàng trốn lính và không tham chiến cho bên nào. Không biết người đó sợ chết đi vì súng đạn hay lý do nào, ý tưởng nào khác hơn, hoặc có căn tu từ nhà Phật chẳng ai hiểu được. Ngọc Dinh cậu bé chưa được mười tháng được mẹ gởi vô nơi đó cho Võ Toàn tự là Nhất Tâm, và để nhờ một sư vãi đã lớn tuổi, chăm sóc bảo bọc, nuôi nấng lớn lên. Ngọc Dinh được lớn lên trưởng thành từ đó và chàng thấm đạo muốn đi tu theo thầy Võ Toàn Nhất Tâm. Và cố nhiên Lệ Trâm được biết tin chồng Ngọc Bảo đã chết đi, khi bà mới sinh Ngọc Dinh vừa tròn ba tháng, và cậu bé sơ sinh ấy chưa thấy mặt cha… Ôi cuộc đời ai cũng luôn đi ra nhiều hướng lạ, chia ra nhiều lối rẽ và biến chuyển khác thường. Nói về cuộc đời Diễm Trinh và Ngọc Dinh. Cuối cùng vì nàng cô gái xinh đẹp, hát hay, biết làm thơ dễ cảm, nên chàng Ngọc Dinh đã mủi lòng yêu Diễm Trinh và chàng đã vì nàng mà ra khỏi chùa Hưng Tịnh. Hai đứa trốn đi tạo dựng cuộc sống. Hạnh phúc ban đầu, dù nghèo mà họ có một hạnh phúc thật tuyệt vời nơi núi sâu một xóm thôn thưa thớt trong buôn bản. Nơi có dân làng thượng người Lạch (Lat, M’lates) và một số người kinh lập nghiệp ưa thích nơi đó. Thắm thoát thời gian cứ trôi qua, mặt trời cứ mỗi lúc bình minh dậy và hoàng hôn xuống. Nàng sống bên chàng thật là cam khổ nhưng ngọt ngào trong tình yêu. Ngôi nhà mà chàng cùng nàng tự kiếm chặt những cây rừng phù hợp để dựng lên. Tội nghiệp cho Diễm Trinh nàng phải dùng liềm thợ gặt để đi cắt những đám tranh đặng lợp cho mái nhà. Tay chân nàng đã bị trầy xước rách xé đôi chút, vì lá tranh tươi bén nên cắt xé, và những loại cây cỏ chung quanh gai gốc, nàng trì kéo đụng chạm tới nó thì nó cào tướt, dù nàng vẫn dùng bao tay bảo vệ, nhưng đâu phải lúc nào cũng phải dùng bao tay kia chứ, lắm lúc nàng cũng cần mở ra để thao tác làm dễ hơn. Trinh biết nhiệm vụ của người vợ, nàng dùng dây rừng cột bó lại, và nhờ chàng vác về thay mình, nàng vẫn cố gắng phụ vác cùng chàng, nhiều khi thấm mệt, song phải vượt qua… Một hôm chàng thấy nàng đổ mồ hôi lăn tròn trên má, khi đặt bó tranh xuống sân nhà và thở hổn hển. Chàng lên tiếng: - Tội nghiệp em quá, thương em lắm. Anh là nam tử sao cũng được. Em là thiếu nữ, liễu yếu đào tơ vốn dĩ, mà vất vả anh nhìn em lòng xót xa không sao chịu nổi. - Em yêu anh mà, mình yêu nhau mà khổ cực là em biết. Em vẫn cam được thôi. Sống bên anh, được anh yêu là em thấy hạnh phúc rồi. - Cám ơn em. Nhìn Ngọc Dinh nói và thái độ chàng, Diễm Trinh cũng xúc động muốn rơi nước mắt trong niềm sung sướng dào dạt. Ở nơi đó Diễm Trinh có tiền vàng bạc nàng mang theo, nhưng nàng đã nghĩ ra cách làm kinh tế và cho vui vui hơn trong cuộc sống. Ít ra nàng cũng không muốn quá phụ thuộc vào đồng tiền mang theo, có ngày sẽ nó cạn dần thì sao. Tiền mà của núi không kiếm ra thêm thì cũng hết thôi. Nàng đã bàn cùng chồng trồng hoa lan, và ít loài hoa khác để bán kiếm tiền thêm. Chàng thì cũng biết bổn phận vào rừng lấy tìm mật ong và hái nấm để bán luôn. Ngọc Dinh đồng ý và cho nàng có sáng kiến hay. Và chàng không phút giây nào chàng quên được ân tình nàng đã cho chàng, và niềm cảm động đó nàng càng thấm đậm hơn trong tim chàng, Và thế rồi là một vườn lan họ gầy dựng khá đẹp mắt, nàng săm soi tưới nước, chàng bón phân, băm gốc tỉa cành. Hai vợ chồng chăm sóc vườn hoa, và nâng niu như những đứa con xinh đẹp của họ… Thế là ngày đi làm, có khi chàng ở nhà chăm sóc cùng nàng, vui bên Diễm Trinh, nhưng nhiều thời gian hơn chàng phải vô rừng sâu, lội tìm từng con suối vắng để đi tìm mật, những việc nơi chàng… Đến chiều thì chàng không bao giờ được về muộn, nếu mà chàng về muộn là Diễm Trinh buồn khóc bắt đền. Có một lần xảy ra như vậy. Ngọc Dinh vì ham theo đuổi một lũ ong ruồi hút nước ở lòng suối, rồi vươn cánh bay biến về nơi tổ, chốn rừng sâu hơn, chàng lại loay hoay tìm kiếm phải theo nhìn chúng, rồi lại thấy nấm mèo thật nhiều trên một thân cây, chàng vui mừng và phải hái nốt để đem về. Tổ ong thì chàng đã thấy nhưng cứ để nuôi dưỡng mật cho nó lớn hơn thêm, chàng phải làm nhiệm vụ với nấm kia. Thế thì Ngọc Dinh đành về muộn đôi chút. Và chàng về nhà thấy nàng khóc than rên hù hụ, chàng đã phải năn nỉ và hứa để làm lành nơi nàng. Và rồi Ngọc Dinh lấy bút vẽ nàng nhanh chóng. Bức tranh đó vô tình, và sau này chàng ưa vẽ tranh không ngờ chàng có thêm một nghề vẽ tranh bất dắc dĩ, mà trở nên tuyệt vời. Nàng cũng quá yêu thích nơi chàng đủ thứ… Thường thì tối nàng ưa đọc văn hay cho chàng nghe dưới ánh đèn lù mù dẫu đã phải khêu hết ngọn để sáng. Ngược lại chàng cũng đọc thơ cho nàng nghe qua. Là như họ có mối nhân duyên trời định tâm đầu ý hợp lắm. Nàng đã đọc những đoạn văn hay trong tác phẩm Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng mà nàng quá thích. Những đoạn văn miêu tả và đối thoại rất là tuyệt, rất là hay. Bên chiếc giường tre mộc mạc, cạnh một chiếc bàn nhỏ, Diễm Trinh nằm đọc cho chàng ngồi nghe: “Phía tây, sau dãy đồi cỏ biếc, sắc trời đỏ ửng, lấp loáng qua các khe đám lá xanh đen. Mái chùa rêu phong đã lẫn màu cùng đất, cùng cây, cùng cỏ. Khoảnh khắc, mấy bức tường và mấy cái cột gạch quét vôi chỉ còn lờ mờ in hình trong cảnh nhuộm đồng một màu tím thẩm. Trong làng không khí yên tĩnh, tiếng chuông thong thả ngân nga như đem mùi thiền làm tăng vẻ đẹp cảnh thiên nhiên. Lá cây rung động, ngọn khói thướt tha, bông lúa sột soạt, như cảm tiếng gọi của Mâu Ni, muốn theo về nơi hư không tịch mịch. Ngọc liếc mắt nhìn chú tiểu, thấy chú vừa đi, miệng vừa lâm râm cầu nguyện, nét mặt có vẻ mặt tưởng trầm tư… Cái buồn rất hay lây. Đi cùng đường với một người, hình dung cho chí tâm hồn, phải đều nhuộm một vẻ ủ ê chán ngán, Ngọc cảm thấy trong lòng nảy ra mối sầu vẫn vơ, man mác và đoái nghĩ tới cảnh náo nhiệt phiền phức ở Hà Thành. Nhưng tuổi thanh niên dễ buồn mà cũng dễ vui. Lúc ấy lên đồi, đường đi khấp khểnh, đá sỏi thì trơn, lại thêm trời nhá nhem sắp tối, nên Ngọc trượt chân suýt ngã, văng cái va li xuống sườn đồi. Chú tiểu vội kêu: – Chết chửa! Ông có can gì không? – Không. Ngọc toan trèo xuống dốc nhặt va li thì chú tiểu đã vội đặt thúng sắn, thoăn thoắt chạy xách lên. – Cảm ơn chú. Hai người cười ồ. Chú tiểu nói: – Ông nên cẩn thận, gần đến chùa rồi có cái giếng cạn ở bên đường khéo mà ngã xuống đấy thì khốn. Để tôi đi trước dẫn đường cho. – Cảm ơn chú. À quên, tôi chưa hỏi tên chú? – Tôi là Lan. Rồi chú trỏ tay bảo Ngọc: – Tam quan đây rồi. Tam quan chùa Long Giáng cũng như nhiều tam quan các chùa vùng Bắc, cách kiến trúc rất sơ sài. Trông như cái quán, có ba gian hẹp, trên nóc làm dô lên một cái mái nhỏ giống hệt cái miếu con. Và tam quan không có cánh cửa mà hình như chỉ một cảnh để bài trí cho đẹp mắt chứ không dùng để ra vào. Vì thế tam quan xây ngay trên sườn đồi đứng thẳng như bức tường không ai leo lên được. Còn ra vào đã có cái cổng con. Chú tiểu Lan đưa Ngọc đi qua một cái vườn sắn, rồi vòng quanh một bức tường hoa… Diễm Trinh mỉm cười nhìn Ngọc Dinh có lắng tai không? Và nàng đã chuyển lật sang một đoạn văn miêu tả cảnh khác mà nàng đã làm dấu rồi. Nàng cất lời hỏi Ngọc Dinh thêm: - Anh có nghe em đọc nữa không? - Thích chứ em yêu. - Vậy nghe tiếp đây, nghe nè anh: Ngọc phần thì đói, phần thì cơm chay lạ miệng, nên ăn ngon lắm. Chàng nghĩ bụng: cứ bảo ở chùa kham khổ, nhưng đậu, vừng cùng dưa, cà chẳng kém gì thịt cá. Tự nhiên trong trí Ngọc nẩy sinh ra cái ý tưởng muốn xa lánh chốn phồn hoa. Ngoài sân ánh trăng chiếu lờ mờ, rặng tường hoa lồng bóng xuống lối đi lát gạch, mấy cây đại không lá ẻo lả, uốn thân trong vườn sân um tươi. Vạn vật có vẻ dịu dàng như muôn màu thiền êm đềm tịch mịch hơn… Diễm Trinh ngừng lại, âu yếm nhìn Dinh rồi bảo: - Đoạn này tuyệt vời nhất nè anh. - Thì anh nghe hết khi em còn đọc chứ. - Vậy nhé. Nàng mỉm cười nhìn chàng nữa và đọc tiếp: Lúc ấy Lan dịu dàng hỏi: – Thưa ông, chiêm bao lành hay dữ? – Chiêm bao thú lắm. Tôi thấy tôi đi với một người sư trẻ tuổi, chỉ vào trạc tuổi chú mà thôi. Chúng tôi đi trên con đường quanh co ngoắt ngoéo, ở giữa hai trái đồi. Cây cối um tùm, ánh trăng chiếu sáng qua những khe lá, bóng in xuống đất như gấm như hoa. Một lát sau chúng tôi đến một cảnh bồng lai. Dưới chân một ngọn núi, dòng nước chảy róc rách như tiếng gõ mõ, tên cành, chim hót véo con, bên mình, ai cười khanh khách. Tôi quay đầu lại, thì lạ quá! Bạn tôi đã biến thành một trang tuyệt thế giai nhân… Ấy chính lúc đó, tiếng chuông của chú làm tôi thức giấc. Chú Lan bẽn lẽn: – Mộng mị của ông đầu Ngô, mình Sở đến buồn cười! – Lạ nhất là người con gái ấy lại là chú. Chú tiểu hai má ửng đỏ. Chú cười sằn sặc như muốn giấu hổ thẹn: Hoặc một đoạn miêu tả khác nàng Diễm Trinh quá đam mê để mở trang đọc tiếp. Một lúc lâu, hai người ngồi im lặng trên thềm hiên chùa, mỗi người như đương theo đuổi một ý tưởng riêng. Về phía đông nam mấy trái đồi phản chiếu ánh chiều tà nhuộm một sắc da cam. Nền trời xanh nhạt, lơ thơ mấy áng mây hồng. In trên cánh đồng lúa chín, màu vàng thẫm, con cò trắng thong thả bay về phía tây, đôi cánh lờ đờ cất lên đập xuống loang loáng ánh mặt trời. Bên cái quán gạch cũ, ẩn núp dưới đám mây đen, trên con đường hẻm, vài ba đứa mục đồng cưỡi trâu hát ngêu ngao trở về trong xóm… Ngọc cất tiếng hỏi Lan: – Trong cảnh này tôi tưởng tượng như còn thiếu một thứ gì. – Ấy là ông tưởng tượng đó thôi. – Phải. Cái cảnh đẹp thế kia, êm đềm thế kia, dịu dàng thế kia, tôi coi vẫn như không có linh hồn. Cũng như lúc nãy chú bình phẩm bức tranh của tôi, chê rằng thiếu vẻ hoạt động vì không có vẽ người… Lan cười hỏi: – Vậy thiếu cái gì? – Thiếu ái tình… vì cảnh yên lặng, diễm lệ này. Tạo hóa chỉ để riêng cho những người biết yêu thưởng thức. Lãnh đạm Lan trả lời: – Không phải. Thiếu tiếng chuông, vì đến giờ thỉnh chuông rồi mà tí nữa tôi quên thôi... Dứt lời Lan vội vàng cắm đầu chạy. Ngọc gọi: Đợi tôi với! Rồi cũng chạy theo sau. Khi lên đến đầu thang gác chuông, bỗng Lan kêu rú lên một tiếng, lùi lại. Ngọc vừa bước tới, thành thử Lan ngã ngay vào lòng chàng. Ngọc ôm bạn lim dim cặp mắt: – Cái gì thế? Câu hỏi như đánh thức linh hồn chú tiểu. Chú giật mình đẩy mạnh Ngọc ra rồi chạy tuột xuống chân thang. Ngọc theo xuống: – Cái gì mà chú sợ hãi quá thế? Lan thở hồng hộc ngồi xệp xuống bậc thang, nói không ra tiếng. Một đoạn văn hay khác Trinh đọc cho chàng nghe tiếp: Ngọc cũng đứng dậy. Hai người nhìn nhau. Bóng trăng khuyết rọi đầu cành, lá không thưa nhặt, cỏ xơ xác mặt đồi lấp lánh giọt sương. Hai người lại nhìn nhau… Dưới chân đồi làng mạc ngủ yên. Cây cối lờ mờ đen, giòng sông con thấp thoáng dưới bóng trăng như một vải lụa trắng, rồi ra xa lẩn trong sương mù. Bỗng có tiếng gà gáy nửa đêm dưới xóm. Lan giật mình lẩm bẩm: – Giá gặp nhau hai năm trước… – Vậy bây giờ muộn quá rồi hay sao? – Muộn quá rồi. Diễm Trinh đọc đến đó và muốn ngưng hẳn luôn. Nàng xếp sách lại. Ngọc Dinh lại ôm nàng cắn nhẹ vào đôi môi của Diễm Trinh như muốn nói gì, nhưng lại thôi không nói chỉ ngắm nàng thôi, Diễm Trinh đã hiểu ý buông sách xuống ôm chàng hít hơi thở chàng, và biết đã đến hồi giờ đi ngủ của vợ chồng… Nghĩa là hết hồi đọc văn hay, để thưởng thức giải trí của nàng rồi… ** Sau một ngày chăm sóc hoa, nấu cơm làm cơm cho chồng đi làm về ăn, hoặc thêu thùa, hoặc làm bánh đậu xanh, hoặc làm một vài cốc chua, xoài chua, bỏ vào hũ thủy tinh. Cơm nước xong nàng vẫn không quên đọc truyện cho Ngọc Dinh nghe trước khi hai đứa đi vào giấc ngủ của mộng đẹp êm đềm. Nàng thì cũng rất mê văn thơ của Hồ Dzếnh, Nàng tìm đọc những đoạn văn hay của tác phẩm Dĩ Vãng cho chàng nghe. Diễm Trinh muốn chia sẻ cái mỹ cảm của mình cho Ngọc Dinh cùng nghe cũng là một điều hạnh phúc nàng muốn được như vậy mà. Nàng đọc trong cảm xúc: - Đố ai tìm được người đi nghỉ mát trái mùa như ta! Đêm lúc ấy đã xuống, tụ như sương mờ ở hai bên thành tầu và rít lên thành một thứ thanh âm lạnh lẽo khi bị xé nát dưới hai dòng bánh sắt quay đều. Hoàng đốt một điếu thuốc lá, thở khói xanh ra ngoài đăm đăm nhìn quãng đồng xa tắp. Chàng rút bút chì trong túi ra, cầm đứng trước tầm mắt, đo chiều cao của dãy núi xám lùi chậm chừng về cái bí mật êm ái của đêm Trung kỳ. Làm xong công việc ngớ ngẩn ấy, Hoàng quay vào thì mấy chiếc đèn điện trong toa đã bật lên lù mù. Bỗng Hoàng giật mình, vì chàng nhận thấy ở cuối toa, đôi mắt sáng đẹp của một thiếu nữ đương chăm chú nhìn chàng, nhưng vội lảng đi nơi khác khi Hoàng chăm chú nhìn trả lại. Hoàng bối rối vô vùng. Chàng trách mình lỗ mãng, không giữ gìn bộ điệu, và từ bao lâu đến giờ, Hoàng chắc thiếu nữ đã cười chàng nhiều lắm. Hoàng cắn môi cho thêm duyên và ngượng nghịu nhìn xuống bộ quần áo tây xám nhầu nhã của mình. Hoàng chắc chắn là lúc chàng mỉm cười, chàng cau mặt cẩu thả, rút bút chì ra ngắm núi, thiếu nữ đã lần lượt chụp ảnh hết vào mắt rồi. Còn gì khó chịu bằng cái nhìn hiền từ nhưng soi bói của một người đàn bà, một thiếu nữ? Hoàng khó chịu lắm. Chàng muốn cho tầu dừng lại để nhảy xuống, để trốn biệt cái vẻ chế riễu, khinh mạn của người con gái ngồi ở cuối toa đi. Thấy nàng không cười cũng không nhìn mình, Hoàng cho rằng nàng cười thầm và nhìn một Hoàng lố bịch trong sự ôn lại. Hoàng giở quyển sách ra xem để cầm trí, nhất là để quên người con gái đẹp và kiêu ngạo đi. Cũng may từ đấy về ga làng Hoàng vội nhảy xuống cắm cổ đi miết vào ga. Lúc Hoàng trả vé xong, chực quay lại nhìn thiếu nữ qua lần cửa kính đục mờ, thì Hoàng ngạc nhiên vô cùng thấy nàng cũng trả vé vào ga như chàng… Hoàng chỉ có đủ thì giờ cướp vội lấy cái tên xinh đẹp in nổi trên tấm thiếp trắng gài giữa chiếc va ly: Kim Thu Nàng vui vẻ âu yếm chàng rồi đọc một đoạn khác: Miền quê Hoàng chiều nay buồn như một người con gái nhớ nhà. Từng hàng tre rủ dài trên mặt đất những xác lá vàng mỏng mảnh, như những nỗi buồn nhỏ nhặt, liên tiếp của lòng người. Xa xa là núi xám, ở bên kia núi xám, vòng quanh bốn phương trời là vẻ buồn rười rượi, chán nản trên những lùm cây phơ phất gió. Đứng trên đê, Hoàng kéo mạnh một hơi thuốc lá, đưa mắt nhìn ra phía trước mặt. Lần đầu, Hoàng chú ý đến cây thánh giá trắng toát, nổi lên khỏi nóc nhà thờ, màu ngói mới, in hình trên bức màn cây xanh biếc. Một vẻ bâng khuâng, hiu quạnh len lỏi trong cái khung cảnh nên thơ ấy, Hoàng thấy tâm hồn rộn lên một nỗi gì như đau đớn, trả lại với vẻ bình tĩnh bao phủ bên ngoài. - “Tại sao lòng ta lại không bình tĩnh được như cây thánh giá, tại sao ta mãi mãi là một sinh vật nhỏ bé đem cái thắc mắc, u hoài vào sự trang nghiêm vô cùng của cảnh vật? Hoàng thơ thẩn nghĩ như thế, và lúc chàng toan rẽ xuống một con đường nhỏ gần đấy, thì bỗng sau lưng có tiếng gọi: - Ông Hoàng! Ông Hoàng! Hoàng ngạc nhiên đến mất trí, khi chàng nhận ra người gọi là Kim Thu. Hoàng tìm ra được một câu hỏi rất khéo: - Hình như cô đi tìm ai? Thu bối rối ra mặt: - Vâng, tôi tìm chị Diệu, chị ấy đi tập ngựa từ lúc hai giờ. Nói xong, Kim Thu chực chào Hoàng quay đi thì Hoàng giữ lại: - Hay cô để tôi đi ra mé đồi này kiếm xem. Kim Thu có vẻ phân vân và không để Hoàng quay gót: - Thôi cảm ơn ông, để tôi đi tìm lấy vậy. Đợi cho Kim Thu đi khuất, Hoàng nắm tay lại, hục hặc với mình một cách nghiêm nghị: - Có biết ta cứ thú thật đi có hơn không. Rõ hoài! Hoàng quay lại nhìn theo, tuy lúc ấy Kim Thu đã mất hút: - Con gái mà cưỡi ngựa, chả trách! Không hiểu sao, Hoàng thấy phấn khởi, sung sướng lạ lùng. Chàng chắc rằng Kim Thu cũng có để ý đến chàng, vì hai tiếng gọi “ông Hoàng!- ban nãy có vẻ vồn vã kín đáo, tuy người gọi vẫn cố giữ nét mặt lạnh lùng của mọi ngày, Hoàng nghĩ đến Diệu. Người con gái ấy, mãi đến lúc này, Hoàng mới thấy không đến nỗi vô ích lắm. Hoàng chỉ còn phải để thêm mấy ngày dò tính nết Diệu, và khi lựa được đúng, chàng sẽ nhờ Diệu nói với Kim Thu… Hoàng thấy má mình nóng lên, ngượng nghịu và sung sướng như chính khi Diệu báo cho chàng cái kết quả đang ao ước thật. Về đến nhà, Hoàng định đi thẳng lên phòng khách, thì cô chàng gọi giật lại: - Hoàng ạ, có cô con gái nào vừa hỏi cháu đấy. Cô ta mặc chiếc áo tím đẹp đáo để. Cô cố giữ lại chờ cháu về, nhưng cô ta xin khất đến khi khác và dặn cháu đến chiều sang chơi. Hoàng cau mặt lại. Người con gái mặc áo tím chỉ có thể là… Đọc đến đây Diễm Trinh mỉm cười và không muốn đọc nữa. Ngọc Dinh ngạc nhiên hỏi: - Sao mệt rồi hã em? - Dạ em mệt rồi, em đổi cho anh. Anh đọc thơ cho em nghe đi. - Đời anh chỉ thích thơ buồn, với lại lúc anh được 17 tuổi, Thầy có cho anh ít tập thơ tình buồn đọc để giải trí nghệ thuật thôi. - Vậy ở bên em anh vui hay buồn hã anh? - Dĩ nhiên là vui chứ. - Em hiểu. Thôi đọc vài bài em nghe đi, thay đổi không khí đi. - Cũng thơ Hồ Dzếnh đó nghen em. - Vậy hã anh? - Đúng rồi em. Chàng đã thuộc và nằm ôm vai ôm cổ nàng mà đọc: Xuân Đôi Ta Em trở về đây, đáp lại lời Anh từng buông gọi giữa xa xôi Nghìn trùng non nước đìu hiu nhớ Ðã vọng hồn anh đến cuối trời Anh đã chờ và cây đã xanh Lừng mùa bay dậy tiếng mây thanh Em về, mắt đẹp ngời như thuở Em chửa theo chồng, vẫn mến anh Anh đợi chờ em suốt bấy lâu Nhủ thầm: xuân thắm chả phai đâu Một khi xuân thắm là mong nhớ Và cả thiên thu: vĩnh viễn sầu! Áo em sáng dệt trời xuân gấm Sông cũ, nguồn xưa rộn rã về… Ngõ hạnh, mấy mùa quên nét thắm Nở bừng, khi thoáng bóng hoa lê Em đã về đây, em vẫn nguyền Như ngày trăng nước chớm tơ duyên Bao năm xa cách, đời chưa nhạt Màu tóc sông thu, ánh mắt huyền Anh hát mừng em khắp thế gian Trập trùng mây núi tiếng ngân vang Thơ yêu khôn ngớt trong thiên hạ Và cả non sông rợn sóng đàn Mời em ngồi lại bến sông xanh Mây cũ muôn năm chiếu dáng lành Ta viết lòng ta cho hậu thế Ðọc hoài không chán: Em và Anh! - Thơ Hồ Dzếnh hay quá anh há. Diễm Trinh bảo. - Đúng rồi em. Nhưng nhiều nhà thơ khác vẫn hay ngang ngửa. Thầy anh lại chuộng thơ Vũ Hoàng Chương và cũng có cho anh đọc vui để giải buồn. - Thiệt sao anh? - Đi tu là lìa bỏ thế tục nhưng thơ hay thầy có để cho coi. Vì thơ là linh hồn của con người cao thượng làm nên. Thơ là tấm lòng vĩ đại. Thơ là lòng người trắc ẩn. Quê hương của thơ là một tâm hồn quả cảm. Coi để ngưỡng mộ, để thư thả cho tâm hồn thôi em à. - Em hiểu. - Anh đọc tiếp nghen. Thơ Vũ Hoàng Chương nè. - Dạ khởi xướng đi, em nghe. Đời vắng em rồi say với ai. Sóng dậy đìu hiu biển dấy sầu, Lênh đênh thương nhớ dạt trời Âu. Thôi rồi, tay nắm tay lần cuối, Chia nẻo giang hồ vĩnh biệt nhau. Trai lỡ phong vân gái lỡ tình, Này đêm tri ngộ xót điêu linh, Niềm quê sực thức lòng quan ải, Giây lát dừng chân cuộc viễn trình. Tóc xoã tơ vàng nệm gối nhung, Đây chiều hương ngát lả hoa dung, Sóng đôi kề ngọn đèn hư ảo, Mơ kiếp nào xưa đã vợ chồng. Quán rượu liền đêm chuốc đắng cay, Buồn mưa, trăng lạnh; nắng hoa gầy. Nắng mưa đã trải tình nhân thế Lưu lạc sầu chung một hướng say. Gặp gỡ chừng như truyện Liêu Trai. Ra đi chẳng hứa một ngày mai. Em ơi! lửa tắt, bình khô rượu Đời vắng em rồi say với ai. Năm Rồi cuộc sống diễn tiến hơn, chàng ngày lên rừng cuốc đất trồng thêm rau quả. Nàng ở nơi nhà làm bánh trái để ăn và cả khi bán. Bán đắt đỏ nàng lại vui say chăm chỉ làm. Hai món đắt đỏ là kẹo đậu phụng và cốc chua dầm nước chua ngọt. Khách buôn làng và có khách vãn lai ghé qua mua ăn thưởng thức vào những sáng chủ nhật… Ngày họ hôn nhau chia tay đi làm, để cho chàng vào núi. Tối về chàng vui vẻ đàn, nàng hát. Diễm Trinh có những khi vui vẻ theo xu hướng, và bên chàng hát bài: bài hát Kể Chuyện Trong Đêm Một đêm biết chuуện chúng mình yêu nhau. Người bạn chiến đấu nằm bên nói rằng. Xin chúc hai người suốt đời yêu nhau. Như trái cau xanh chung tình cùng trầu. Tình yêu như hoa sóng trên đại dương. Vẫn dâng lên dạt dào. Người em bé nhỏ má hồng yêu ơi. Đừng buồn những lúc chiều pha sắc lạnh. Anh hứa anh là suốt đời của em. Em chớ lo âu ân tình nhạt nhòa. Thời gian bôi xóa áo anh nhạt phai Ϲhứ không phai nhạt tình. Nhớ lúc rời nhau chiều mưa ấу. Lá thu nào rơi rụng bước em đi. Áo anh như chạy mờ dần trong sương cát bay. Nếu biết người đi vì sông núi. Cách chia này cho hạnh phúc mai sau. Chắc em thôi sầu vì người đi cho lý tưởng. Nửa đêm nói chuyện chúng mình yêu nhau. Một vầng trăng khuyết lạc trên tuуến đầu. Em hỡi sau này chúng mình thành đôi. Như lúc trăng vơi để rồi lại đầу. Thì tương lai đó có anh và em. Ghép tên chung thiệp hồng... Ghép tên chung thiệp hồng... Chàng lại vui sướng có cảm hứng theo nàng nên hát tiếp bài: Nép Vào Lòng Anh Em ơi nép vào lòng anh má kề bên nhau, anh nhắc chuyện ngày qua. Cho mối duyên thêm mặn mà. Em ơi nếu mà sau này, giấc mộng không thành. Thì đành đôi ngã chia ly, chớ đừng u sầu làm chi. Em ơi, em hỡi duyên tình dù lắm thương đau. Nhưng đời ta mãi yêu nhau, cho thời gian không úa màu. Em ơi, em hỡi xuân về nào có đâu xa. Nếu mà mỏi gối bôn ba. Anh về nối lại tình ta. Em ơi, nếu còn yêu nhau. Nhé đừng giận nhau, cho luyến lưu khi biệt ly. Thêm vấn vương làm gì. Em ơi, có ngờ đâu rằng. Khúc nhạc chưa tàn, mà vội xa cách em ơi. Đôi ngã biết tìm về đâu? Đôi ngã biết tìm về đâu? Thật là những ngày tháng tuyệt vời của mối tình họ, ngọt ngào và êm thắm, hạnh phúc và trái chín… Và chàng đọc. Lâu lâu chàng đọc lại bài thơ của nàng chàng cũng thích. Để ghẹo yêu Diễm Trinh này nhé: Em và anh dắt nhau đi tìm hoa dại Vào rừng mơ để tìm dấu mặt trời Đưa hồn về tận chốn biển khơi Tìm hương mật trong từng tia sóng nước Ai đã bảo tình ta là kiếp trước Tình cho nhau không phụ rãi ân tình Đẹp làm sao bằng những buổi bình minh Lòng tự hỏi để chia nhau mấy bận Rồi trang điểm, rồi âu yếm nhau phấn chấn Rồi hái cuộc tình chín mận ở nơi tim Yêu mê say trong hạnh phúc đi tìm Để đón nhận nhịp thở đời sung sướng ….. Sáu Thời gian trôi qua hai năm sau đó Ngọc Dinh ham làm ngày anh vào núi, ngoài tìm ong kiếm mật, và đi hái những cây bông nấm ăn được, chàng còn trồng tỉa, lan, mì, đậu, bắp. Và có cả lúa trên nương rẫy một ít, vì anh vốn yêu bông lúa vàng, mùi thơm quyến cảm của nó. Chàng đã phát rẫy làm nương non nửa hecta đất. Dần dà anh không thường về sớm như trước kia. Diễm Trinh quen dần cũng không khóc bắt đền anh như xưa… Nàng cũng yên vui trong công việc lao động của chính mình, và cũng ít có dịp đọc sách cho chàng nghe như thưở nào. Có đọc cũng chính đọc cho riêng một mình ên mình nghe và có hát bông quơ cũng chỉ hát riêng cho chính một mình ên mình nghe mà thôi. Thời gian đã khiến hai người còn yêu nhau nhưng ít nồng nhiệt, ít say đắm âu yếm dành cho nhau như thưở kia. Rồi một ngày nọ, chàng đi làm về trời đã chuyển màu xám tối nhá nhem, hoàng hôn mặt trời như đã xuống núi và đã lặn trong nửa giờ. Thì chính lúc ấy chàng lại bắt gặp, thấy dáng một người con trai vừa ra khỏi nhà chàng, người con trai đó không dong dỏng ốm cao như chàng, mà có vẻ đậm đà mập mạp, phốt phát hơn, chàng đi ra ngõ phía đằng trước, miệng còn vui vẻ huýt sáo vang vang tuy nho nhỏ. Ngọc Dinh lúc mới sáng sớm ra đi làm, đến khi cả về nhà thường vào phía ngõ sau. Thường ngày là như vậy, tính ra sau này một tháng chàng đi làm cả 30 ngày nhưng vô ra vào phía sau hết 28 ngày rồi, vì ngõ sau để đồ vật mang đi cùng mang về thuận tiện hơn. Chỉ có hai năm trước chàng hay về phía ngõ trước mà thôi. Chàng đâu có biết rằng cách đây chừng một tháng, người con trai đàn ông đó đã đến mua trái cốc của vợ chàng bán nơi lọ thủy tinh để ăn rồi ngồi lại tán tỉnh vợ chàng bâng quơ: - Này em cô gái xinh đẹp kia ơi. Cốc em làm chua và ngọt ăn bắt mê ghê nghen, ăn là ghiền thôi. Nhưng sao em lọt giữa núi rừng buôn bản xóm suối này nhỉ… - Em có chồng em đi làm. Vì em yêu anh đó phải trốn vào núi sống thôi. - Ôi tình yêu em thật đẹp và lãng mạn hết sức nghen. Nhưng tại sao yêu nhau mà phải vào núi. Đi tham quan thì được, nhưng ở núi thì thiệt thòi và lâu ngày em không thấy buồn sao? - Dạ không em thích nơi êm đềm vắng vẻ... - Có thể tin không đây, lời nói em có thật không nhỉ? - Chồng em là một chú sa di yêu em và hai chúng em phải trốn. - Trời ơi chuyện tình em còn lãng mạn nên thơ quá, nghe ra hấp dẫn hơn phim. Nhưng thực tế em chấp nhận lâu dài được sao? Diễm Trinh thoáng buồn không trả lời nàng lo công việc nàng. Chàng khách lạ bỗng cất lên tiếng hát bâng quơ nhưng có ý, và còn nhiệt huyết Ngọn Trúc đào Chiều xưa có ngọn trúc đào. Mùa thu lá rụng bay vào sân em. Chiều thu gió lạnh êm đềm. Mùa thu lá rụng cho mềm chân em. Tại vì hai đứa ngây thơ. Tình tôi dạo ấy là ngơ ngẩn nhìn. Nhìn vầng trăng sáng lung linh. Nhìn em mười sáu như cành hoa lê. Rồi mùa thu ấy qua đi... Chợt em mười tám chợt nghe lạnh lùng. Thuyền đành xa bến sang sông. Hàng cấy trút lá tình đi lấy chồng. Chiều nay nhớ ngọn trúc đào. Mùa thu lá rụng bay vào sân em. Người đi biết về phương nào. Bỏ ta với ngọn trúc đào bơ vơ. Bỏ ta với ngọn trúc đào bơ vơ… Lời bài hát đã bay đến tai Diễm Trinh cô đã nghe cô bước ra khen: - Ủa anh hát hay quá. - Hay không em gái? - Hay thật mà. - À em có biết hát không nhỉ? - Biết nhưng sợ anh nghe sẽ không hay đâu. - Giọng em nói dễ thương chắc là hát hay thôi. - Thôi đi anh hai thầy bói quá hà. - Nói chơi thôi mà. Anh hát bâng quơ vớ vẩn mà em nói hay là anh vui rồi. - Hay lắm em nói thiệt mà. - Nói chứ anh là ca sĩ đó chứ. Ca sĩ tỉnh lẻ nên em không để ý, hơn nữa anh mới nổi lên hai năm nay ở thành phố thôi. - Vậy à nghệ danh anh tên gì. - Anh là ca sĩ Quang Thoại. - Ô em hân hạnh quá biết anh ở đây? - Chuyện nhỏ mà. - Ồ em biết hát. Thử hát vài câu anh nghe đi được không? - Dạ chắc cũng được. - Cất môi đi… - Dạ. Nàng hát: bài Đà Lạt Hoàng Hôn. Xin trích những đoạn... Lắng nghe chiều xuống thành phố mộng mơ. Màu lam tím Đà Lạt sương phủ mờ. Từng đôi đi trên phố vắng, bước chân êm giữa không gian, hoàng hôn thủa màn đêm. Đứng trên triền dốc nhìn xuống đồi thông. Hàng cây thẫm màu đèn lên phố phường. Giờ đây hơi sương giá buốt biết ai thương bước cô liêu, một người đi trong sương rơi. Đà Lạt ơi! Có nghe chăng Cam Ly, khóc tình đầu dang dở. Đêm xuống than thở vang cung đàn, thêm sắt se tâm hồn, người đi trong bóng cô đơn. Khách du tìm đến thành phố ngàn thơ. Nhặt hoa thấy lòng buồn không bến bờ. Gần nhau xa nhau mấy nỗi. Hỡi quê hương xứ sương rơi Đà Lạt ơi! Đà Lạt ơi!..... Và rồi…. (Còn tiếp) May/ 25/ 2024

Hiếu Thảo- Hương Dạ Thảo

Mục Lục


7. Afghanistan, nhìn lại từ đầu: Liên xô/ Mỹ bỏ chạy...

Hoàng Long Hải



Khoảng năm 100 trước Công Nguyên, khi vua Vũ Đế nhà Hán mở rộng thế lực về phía cực tây Trung Hoa thì “Con đường lụa” hay còn gọi là “Con đường hồ tiêu” (SilkRoute hay SpiceRoute) hình thành, bằng cách nối những con đường đã có sẵn, từ Bắc kinh (Trung Hoa) về phía tây nước nầy, xuyên qua vùng sa mạc ở Nội Mông và Ngoại Mông, vượt cao nguyên Karakoram và Taklamakan ở Tân Cương, qua phía bắc Ấn Độ, qua các nước Trung Á rồi tới Afghanistan để qua Trung Đông (Iran, Iraq), các hải cảng lớn trên bờ biển phía nam Địa Trung Hải như Syri và Alxandri của Ai Cập. Tại các hải cảng nầy, hàng hóa sẽ được chuyển qua Ý và châu Âu. Hoặc hàng từ châu Âu đi ngược lại con đường ấy. Con đường lụa dài khoảng 7 ngàn cây số, vượt qua nhiều địa hình trắc trở, khó khăn và khí hậu khắc nghiệt. Nhưng những món hàng chuyên chở trên con đường nầy, như lụa và hồ tiêu của Trung Hoa đem bán cho châu Âu và vàng, bạc, châu báu từ châu Âu bán cho Trung Hoa là những món lợi lớn nên rất hấp dẫn các thương nhân thời ấy. “Con đường lụa” thịnh suy tùy thời kỳ. Sau khi nhà Hán suy tàn, con đường nầy không còn dùng được nữa vì rất nhiều giặc cướp. Đến cuối đời Tống, con đường lụa lại thịnh lên rồi tàn lụi rất nhanh. Chỉ đời nhà Nguyên, vì các vua là người Mông Cổ. Các ông vua nầy cũng đem quân qua tới châu Âu, việc buôn bán trên “Con đường lụa” lại thịnh lên. Do đó, một người Ý tên là Marco Polo, theo bọn thương nhân mà qua Trung Hoa. Ông nầy làm quan ở Trung Hoa đời nhà Nguyên những 20 năm, rồi trở về châu Âu theo đường biển (đi qua Việt Nam). Về tới châu Âu, Marco Polo xuất bản cuốn du ký giới thiệu nước Trung Hoa với châu Âu. Bấy giờ người châu Âu mới biết rõ thêm về nền văn minh Trung Hoa, mà trước đó, có lẽ cũng qua “Con đường lụa” mà người châu Âu học thêm về thuốc súng, hỏa tiển, giấy, la bàn do người Tầu khám phá trước đó. Như trên đã nói, “Con đường lụa”, trước khi tiến vào vùng Trung Đông phải đi qua Afghanisan, bằng hai nhánh. Vị trí vùng nầy là huyết mạch của “Con đường lụa”, buộc phải đi qua đây để vào Trung Đông. Chỉ kể cuốn sách của Marco Polo mà thôi, cũng cho người ta thấy vai trò văn hóa của “Con đường lụa”. Trong khi mang hàng hóa buôn bán Đông Tây, “Con đường lụa” cũng đóng vai trò giao lưu văn hóa của các dân tộc trên con đường nầy. Dĩ nhiên, tôn giáo cũng theo con đường nầy, - cùng với thế lực của các đế quốc -, như đế quốc La Mã, Ottoman, nên tôn giáo đã phát triển thêm rộng ra: Đạo Thiên Chúa, đạo Hồi, đạo Phật… Đạo Hồi, đạo Phật qua tới Mông Cổ và Afghanistan. Vì vậy, một thời đạo Phật rất thịnh ở Afghanistan. Vị trí Afghanistan là gạch nối giữa vùng Trung Á và Trung Đông. Từ Trung Á, đi về hướng Pakistan là vào vùng Nam Á. Cũng từ Trung Á, đi về hướng Afghanistan là vào Trung Đông. Trong lịch sử, văn minh Lưỡng Hà (sông Euphrate và sông Tigre - vùng Iraq) là cái nôi văn minh của nhân loại. Xa hơn nữa, tới Ai Cập, ai cũng biết nước nầy có một nền văn minh vĩ đại với các kim tự tháp, v.v… Quanh Địa Trung Hải là văn minh Địa Trung Hải. Xem thế, người thấy tính cách quan trọng trong sự giao tiếp của các nền văn minh của nhân loại. Cũng vì vị trí đó, Afghanistan có khi được coi là thuộc Trung Á, có khi thuộc Trung Đông. Cũng vì tính cách đó, lịch sử Afghanistan, trước khi hình thành quốc gia Afghanistan hồi giữa thế kỷ thứ 18 rất phức tạp. Tại vùng nầy, các nhà khảo cổ đã tìm thấy những cổ vật cho thấy cách nay 50 ngàn năm, con người đã xuất hiện và sinh hoạt ở vùng nầy rồi. Như đã nói, Afghanistan là ngã tư đường của văn minh Ấn Âu, nơi sinh sống của nhiều sắc tộc. Đây cũng là nơi một thời mang lịch sử của Đế Quốc Ba-Tư, Đế Quốc Parthia… Đây cũng là nơi sinh sản một tôn giáo rất sớm của nhân loại, trước CN gần 2 ngàn năm. Đó là Đạo Thờ Thần Lửa (Bái Hỏa Giáo). Alexandre Đại Đế xâm lược Afghanistan và các nước lân cận và đã phát triển văn minh Hy-La ở đây. Cũng có môt thời gian dài, vùng đông-bắc Afghanistan bị sát nhập vào Ấn Độ, nên Phật giáo được truyền bá ở đây nữa. Hồi thế kỷ thứ nhứt sau CN, Afghanistan là trung tâm đế chế của người Kushan. Trong một thời gian dài khoảng hơn 1 ngàn năm, vùng nầy là nơi tranh chấp của nhiều đế chế. Tuy nhiên, quan trọng nhất là ở thế kỷ thứ 13, quân Mông Cổ của Thành Cát Tư Hãn đã tàn phá Afghanistan. Người ta không lạ gì khi thấy sau khi quân Mỹ đánh đuổi quân Taliban hồi năm 2001, người dân Afghanistan đem bán rất nhiều cổ vật để kiếm sống. Nó chứng tỏ nhiều nền văn minh cổ xưa của nhân loại đã phát triển ở xứ nầy. Và qua đó, người ta cũng hiểu thêm, tại sao Afghnistan là một nước Hồi giáo mà lại có hai tượng Phật rất lớn, bị Taliban phá hủy, khiến nhiều nước cũng như Liên Hiệp Quốc lên tiếng phản đối. Quốc gia Afghanistan chỉ mới “tượng hình” hồi đầu thế kỷ thứ 18 khi Khan Hotak, một người thuộc bộ tộc Pashtun đánh bại người Ba Tư, là người chủ trương cải đạo Hồi của người Sunny sang Shi’a. Khan Hotak chiếm giữ vùng Kandahar. Con trai của Khan Hotak là Mahmud Hotaki lên nối ngôi, tấn công vào Iran rồi tự xưng là vua Ba-Tư. Cuối cùng Hotaki bị Nader Shah lật đổ. Năm 1738, Nader Shah và quân đội của ông, gồm bốn ngàn người Pashtun chinh phạt vùng Kandahar, Kabul. Sau khi Nader Shah qua đời, người Afghan đã tụ tập tại Kandahar chọn Ahmad Shah làm vua. Ahmad Shah thường được coi là người sáng lập nước Afghanistan hiện đại. Ahmad Shah mở rộng lãnh thổ, truyền ngôi lại cho con là Timur Shah. Timur dời đô về Kabul. Cùng trong phong trào chiếm thuộc địa của các nước châu Âu, Anh đem quân chiếm Afghanistan vào thế kỷ 19. Vua Amanullah Khan lên ngôi năm 1919, giành được quyền độc lập hoàn toàn trong lãnh vực ngoại giao từ tay người Anh. Việc phân chia ranh giới quốc gia giữa Afghanistan và Ấn Độ thuộc Anh cũ (nay là Pakistan) tạo ra sự căng thẳng giữa hai quốc gia nầy. Khi vua Zahir Shah cầm quyền (từ 1933 đến 1973), tình hình Afghanistan được ổn định. Tuy nhiên nhà vua đã bị em rể là Daouid Khan cướp ngôi. Nhà vua bị lưu đày qua Ý. Sau khi quân Mỹ chiếm đóng Afghnistan 2001, vua Zahir Shah được mời trở về nước. Vì tình hình đã thay đổi, và người Mỹ quyết tâm ủng hộ Hamid Karzai lên cầm quyền nên vua Shah không giữ một vị trí quan trọng nào, mặc dù, tuy đã già ông cũng còn muốn giúp nước. Ông có mặt và ủng hộ Hamid Karzai trong lễ tuyên thệ nhậm chức tổng thống của ông nầy. Vì bệnh, cựu hoàng Shah được đưa qua chửa trị ở Ấn Độ. Ông qua đời hồi tháng 7 năm 2007 tại Kabul. Daouid Khan, người cướp ngôi của vua Zahir Shah cùng với gia đình bị giết sau khi Cộng Sản lên cầm quyền ở Afghanistan. Trong chiến tranh lạnh, Liên Xô bị bao vây, hạm đội Hắc Hải của Liên Xô, muốn đi chuyển từ Hắc Hải ra Đại Tây Dương không thể tránh khỏi sự kiểm soát của phe tư bản ở eo biển Istambul thuộc Thổ Nhĩ Kỳ (phe Mỹ) và eo biển Gibraltar, ở bán đảo Tây Ban Nha. Vì vậy, Liên Xô, muốn mở con đường bộ đi xuống vịnh Ba-Tư thì phải chiếm lĩnh Afghanistan. Thực ra, việc làm nầy cũng chỉ lập lại mưu đồ của Nga Hoàng ngày xưa nhưng chưa thực hiện được mà thôi. Do Liên Xô đạo diễn, một cuộc cách mạng do đảng Dân Chủ Nhân Dân thực hiện đã xảy ra ở Afghanistan. Đây là một đảng Mác-xít do Liên Xô đẻ ra. Sau khi nắm chính quyền, đảng Cộng Sản Afghanistan thành lập nước Cộng Hòa Dân Chủ Afghanistan. Vốn là một vùng đất từng có nhiều phân ly, được kết hợp một cách phức tạp nên ngay trong nội bộ đảng Cộng Sản Afghanistan cũng chia nhiều phe phái chống đối nhau kịch liệt. Tuy vẫn dùng chính sách cai trị tàn ác và đẫm máu như các nước Cộng Sản khác, việc cai trị của Cộng Sản ở đây cũng không thể nào ổn định được, cuối cùng, năm 1979, Liên Xô phải đem hơn 150 ngàn quân, cùng 100 ngàn quân của chính phủ Cộng Sản Afghanistan do Babrac Karman làm tổng bí thư, tiểu trừ các lực lượng chống Cộng ở đây. Việc nầy được xem như là một cái bẫy sập của Brzezinski, cố vấn của tổng thống Jimmy Carter. Người Mỹ, qua chính quyền Pakistan, đã ngấm ngầm yễm trợ nhiều mặt cho Mujahideen. Mujahideen là lực lượng chống chính phủ Cộng Sản Afghanistan và quân đội Liên Xô. Mujahideen gồm những người Hồi giáo chống Cọng sản vô thần. Cuộc chiến tranh nầy khiến hơn 5 triệu người Afghanistan bỏ quê hương chạy loạn qua Pakistan, Iran và nhiều nước khác. Sau 10 năm đem quân vào Afghanistan mà không đạt được thắng lợi, với hơn 15 ngàn binh sĩ bị giết và vì áp lực quốc tế ngày càng nặng, năm 1988, Liên Xô rút quân đội về nước, chính phủ thân Cộng ở đây sụp đổ theo. (1) Hình như Hoa Kỳ đã “bỏ quên” Afghanistan trong vòng 10 năm, sau khi Liên Xô rút quân về, những phần tử tinh hoa của đất nước đã tìm mọi cách trốn ra ngoại quốc. Cuối cùng, Afghanistan chỉ còn lại những phần tử Mujahideen hiếu chiến và chia rẻ, chia ra từng phe phái chống đối lẫn nhau. Vốn dĩ đất nước nầy gồm nhiều phần sa mac và núi non hiểm trở, sự đa dạng trong sắc tộc và ngôn ngữ khiến dân tộc nầy khó có thể thống nhứt được, nhiều phe phái chống đối lẫn nhau, các lãnh chúa địa phương lại nổi lên tranh giành quyền lực. Nhóm dân đông nhứt là người Pashtun, ít hơn là các nhóm dân Tajik, Hazara…. Nhóm Taliban thuộc chủng tộc Pashtun chiếm được 95% lãnh thổ, chiếm Kabul năm 1996. Chống lại Taliban chỉ còn nhóm gọi là “Liên Minh Bắc Afghan.” Chính quyền Taliban áp dụng chính sách cai trị hà khắc, và trở thành nơi nương thân cho bọn khủng bố Al Qaeda của bin Laden. Thủ lãnh Taliban là Mullah Omar là con rể (và nhận tài trợ) của bin Laden. Trong bảy năm cầm quyền của Taliban, đa số dân chúng nước này phải sống trong tình trạng hạn chế đến cùng cực các quyền tự do và sự vi phạm vào quyền sống của họ. Phụ nữ bị cấm làm việc, trẻ em gái không được đi học. Những người chống đối bị trừng phạt ngay lập tức. Những người Cộng sản bị tiêu diệt một cách có hệ thống và trộm cắp bị trừng phạt bằng cách chặt chân, chặt tay. Tuy nhiên, tới năm 2001 Taliban đã hầu như tiêu diệt được việc trồng cây thuốc phiện tại Afghanistan. Ngày 11 tháng 9/ 2001, sau khi cuộc khủng bố diễn ra ở Nữu Ước/ Hoa Kỳ do Al Qaeda chủ trương, chưa đầy 24 giờ đồng hồ, toàn bộ nước Afghanistan, chính quyền Taliban và Al Qaeda đốt pháo bông tổ chức “mừng thắng lợi”. Nước Mỹ, với gần 30 cơ quan tình báo không biết trước việc khủng bố sẽ xảy ra? Trong 8 năm cầm quyền của Bill Clinton, thì ở Afghanistan, bọn khủng bố Al Qaeda đã thành lập các trại huấn luyện, tổ chức các nhóm khủng bố, chuẩn bị tấn công nước Mỹ mà tổng thông Bill Clinton không biết gì hết? -Hay tổng thống có biết mà không quan tâm, -hay không cho nó là quan trọng, -hay cố ý làm lơ? Thế rồi, William Bush ngồi ghế tổng thống chưa nóng chỗ, đã kinh hồn hoảng vía vì cuộc tấn công của Al Qaeda vào tòa tháp đôi, vào Ngũ Giác Đài? Thế rồi tổng thống Bush tung ra chiến dịch “Tự Do Bền Vững” Taliban và AlQaeda bị đánh bật ra khỏi Afghanistan một cách mau lẹ, dễ dàng. Tora Bora là vùng người ta nghi bọn thua trận sẽ chạy trốn ở đó. Nếu có như thế thì bọn chúng cũng chẳng sẽ được an toàn vì một người đàn bà Việt Nam, (1) tác giả loại bom áp nhiệt (Thermobaric Bomb) đã ngăn chận không cho chúng vào ẩn núp ở pháo đài thiên nhiên kiên cố đó. Tháng 12 năm 2001, các lãnh tụ của các nhóm đối lập ở Afghanistan gặp nhau ở Bonn, (Đức) để thành lập một chính phủ mới cho quốc gia nầy. Ông Hamid Karzai, một người thân Mỹ, gốc thuộc bộ tộc Pashtun lên cầm quyền. Tiếp đó là các cuộc bầu cử tổng thống, quốc hội. Hiến pháp được ban hành. Phụ nữ được hưởng các quyền bầu cử, ứng cử như ở các nước tiến bộ. Công cuộc khôi phục và xây dựng của Afghanistan gặp rất nhiều khó khăn vì sự nghèo đói, thiếu thốn của dân chúng. Các cơ sở giáo dục và y tế đều bị tàn phá và bỏ bê qua một thời gian lâu dài. Kinh tế khó khăn, nông nghiệp khôi phục chậm khiến dân chúng nhiều người đổ xô trồng cây anh túc - loại cây làm thuốc phiện - để kiếm sống. Thuốc phiện chiếm hơn 1 phần 3 tổng sản lượng quốc gia. Do tình trạng đó, bọn Taliban càng ngày càng phục hồi, chiếm cứ thêm nhiều vùng. Vã lại, sau chiến tranh Irăq, chính phủ Bush tập trung vào chiến trường nầy, việc hỗ trợ cho chính phủ Afghanistan càng ngày càng giảm sút làm cho chính quyền của tổng thống Hamid Karzai thêm yếu đi. Bây giờ, chính sách của tổng thống Obama tập trung vào Afghanistan hơn vào Iraq. Sau khi nhậm chức, tổng thống Obama liền cho điều 17 ngàn quân từ Iraq sang Afghanistan và mới đây, tăng cường thêm 4 ngàn quân nữa. Tổng thống Obama cũng đưa ra một chiến lược mới, nhằm tấn công Taliban trên nhiều mặt khác nhau. Truớc hết, để lực lượng Taliban yếu đi, Mỹ sẽ đối thoại với các phần tử Taliban “không cực đoan”, kêu gọi về hợp tác với chính phủ Kabul và chia cho họ một ít quyền hành. Chính sách đó, bày tỏ sự khôn ngoan và uyển chuyển của tổng thống Mỹ. Kinh nghiệm cho thấy Liên Xô đã sa lầy ở Afghanistan, chịu thua trận và rút quân. Từ kinh nghiệm đó, người ta có thể rút ra một số nhận định như sau: Chiến tranh ở Afghanistan là chiến tranh du kích, không thuộc sở trường của quân đội các nước phát triển. Người lính Mỹ được huấn luyện để tham gia những cuộc chiến tranh qui ước, trận địa với xe tăng, đại pháo, hải yểm, không yểm... Họ có thể chiến thắng dễ dàng và mau lẹ trên các mặt trận lớn, nhưng lại rất khó xoay xở trong các loại chiến tranh du kích, rình rập, bất ngờ, rất khó phản ứng kịp thời. Hơn thế nữa, kiểu chiến tranh khủng bố liều mạng hiện nay như ở Iraq và Afghanidtan là một hình thái chiến tranh du kích đạt tới đỉnh cao của nó. Du kích quân là những trai gái còn trẻ, có sức khỏe để có thể lội suối băng đèo tham gia trận chiến. Chiến tranh khủng bố phức tạp và bất ngờ hơn. Trẻ con, ông già bà lão, cũng có thể mang vài ba ký lô thuốc nổ, có thể tự cho nổ hoặc được kích nổ từ xa, khiến người lính hay viên chức chính quyền không thể đề phòng, ngăn chận được. Người ta cũng khó phân biệt ai là lính, ai là dân. Lính là dân, mà dân cũng là lính. Du kích là một hình thái chiến tranh thích hợp với nông thôn, sình lầy và núi non hiểm trở. Do đó, người ta cần có những loại vũ khí, khí tài, xe cộ thích hợp với loại địa hình chiến tranh nầy. Afghanistan là một vùng lãnh thổ gồm nhiều núi non, phần nhiều là núi đá và sa mạc, có khí hậu lục địa, thiếu nước ngọt. Quân du kích di chuyển bằng ngựa, mau lẹ và tiện lợi, trong khi các loại cơ giới cần có đường sá hoặc địa thế thích hợp, rất khó xoay chuyển trong vùng địa lý như thế nầy. Trong tình hình hiện tại, chính phủ Afghanistan có một quân đội với 80 ngàn người là quá ít, Cảnh Sát cũng có một lực lượng tương đương và hiện đang phát triển thêm, bên cạnh binh lính Mỹ và NATO có một lợi thế đặc biệt là xử dụng trực thăng. Phương cách tấn công bằng trực thăng và trực thăng vận rất hữu ích và bất ngờ. Tuy nhiên, trực thăng cũng thường là mục tiêu rất dễ bắn trúng của các loại súng phòng không và hỏa tiễn. Tôn giáo đã bị bọn Taliban lợi dụng và tuyên truyền tối đa. Sự kỳ thị tôn giáo ở Trung Đông có tính truyền thống, trước hết là giữa những người Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo và Hồi giáo. Lòng thù hận tôn giáo nầy bắt nguồn từ các cuộc Thập Tự Chinh hàng mấy trăm năm trước, và được nuôi dưỡng bằng xung đột tôn giáo, chính sách cai trị bóc lột của người Tây phương với các thuộc địa. Các nước Trung Đông ở ngay trên các mỏ vàng đen, nhưng các nước Tây phương, đặc biệt là Mỹ đã khai thác và hưởng lợi tối đa trên nguồn lợi thiên nhiên nầy. Thêm vào đó, sự hình thành một nước Do Thái, tạo sự xung đột với người Palestine là một vấn đề dai dẳng không thể giải quyết được kéo dài hơn nửa thế kỷ nay. Qua đó, người Hồi giáo luôn luôn đứng về phía người Palestine cùng tôn giáo với họ. Bọn quá khích Hồi giáo lợi dụng những người cuồng tín tôn giáo để khuyến khích, dụ dỗ họ chết vì đạo, tự tử vì đạo để được ân thưởng của đấng tối cao. Phần thưởng mơ hồ đó lại rất hấp dẫn những người nghèo khổ và cuồng tín. Chiến tranh du kích là hình thái của loại chiến tranh nhân dân, có nghĩa là mọi người đều tham gia trận chiến. Do đó, cuộc chiến tranh nầy không có trận địa, giới tuyến. Cũng từ tình cảm chủng tộc, dân tộc và tôn giáo, tình báo nhân dân rất dễ phát triển có lợi cho phía người đồng chủng, cùng một đất nước, lịch sử hơn là binh lính viễn chinh. Trong cuộc chiến tranh nầy, các phương tiện tình báo chiến thuật, chiến lược hiện đại rất ít tác dụng. Nguồn cung cấp vũ khí, tài chánh và người cho lực lượng du kích là yếu tố sinh tử. Người thường được tuyển mộ ngay tại địa phương. Tuy nhiên, nhiều phong trào du kích bị thất bại là vì lý do đặc biệt của nó. Ví dụ: Cộng Sản Singapor sở dĩ bị tiêu diệt dễ dàng là vì Singapor là một thành phố, du kích không thể lập các căn cứ địa, và nguồn tiếp tế phía ngoài không thực hiện được. Du kích Mã Lai, tuy có địa thế thuận lợi là nhờ rừng rậm, nhưng cũng vì không có đường tiếp tế từ ngoài vào nên du kích Mã Lai cũng không phát triển, đến khi Trung Cộng bắt tay với Mỹ thì hai lãnh tụ du kích Mã Lai là Trần Bình (gốc Tầu) và Rashid (gốc Mã Lai) phải xin hợp tác với chính phủ Mã Lai. Vì ở giữa đảo, không đường tiếp tế nên du kích Huk ở Phi luật Tân cũng chung số phận. Ở Việt Nam, và ở miền Nam Việt Nam, Trung Cộng và Liên Xô là những nguồn tiếp tế lớn của Việt Cộng, lại thêm Campuchia làm hành lang cho quân Việt Cộng Bắc Việt tiếp tế và xâm nhập, nên quân đội miền Nam không thể chống cự lâu dài với quân Việt Cộng. Trong tình hình Afghanistan hiện nay, nguồn tiếp liệu vũ khí đạn dược cho lực lượng Taliban là từ đâu tới? Nguồn tiếp tế đó phải là từ các nước chung quanh Afghanistan. Phía đông nam của Afghanistan là một vùng biên giới rất dài với Pakistan, gần 2,500 Km. Phía tây là Iran. Phía bắc là các nước Trung Á, lãnh địa cũ của Liên Xô như Turkmenistan, Uzbekistan, Tajikistan và một khu vực nhỏ cực đông có chung biên giới với Trung Quốc. Hiện nay, Taliban đang ẩn núp vùng biên giới Afghanistan và Pakistan. Đây là vùng núi non hiểm trở, phần đông là các bộ lạc với những lãnh chúa nhiều quyền uy, che chở cho Taliban vì quyền lợi. Vùng biên giới mà lằn ranh không định rõ nên dễ bị nhầm lẫn. Trước đây, mặc dù tổng thống Pakistan đã nhận hàng tỷ mỹ kim của Mỹ, nhưng tính hình không tiến triển chút nào. Trong khi đó, các viên chức quân sự Pakistan cũng bao che cho Taliban. Theo Robert Burns, phái viên hãng AP thì “Các quan chức quân sự Mỹ đã chỉ ra bằng chứng mới cho thấy quân đội Pakistan, vốn có những quan hệ từ lâu với phong trào Taliban, đã cố tình làm ngơ cho những cuộc xâm nhập của tổ chức nầy.” Burns cũng nói thêm: “Một sĩ quan tình báo quân sự Mỹ đã nói với các phóng viên, số lượng những cuộc tấn công của bọn phiến loạn đã tăng 300 phần trăm từ tháng 9 năm 2006, khi chính phủ Pakistan đưa thỏa thuận hòa bình với các lãnh đạo bộ tộc vào thực hiện ở vùng miền bắc Waziristan, dọc theo biên giới phía đông của Afghanistan.” Nên nhớ rằng Al Qaeda không thiếu tiền để mua chuộc lãnh chúa các bộ tộc vùng nầy cũng như các quan chức quân sự có trách nhiệm trên vùng biên giới giữa hai nước. Tình hình căng thẳng giữa Hoa Kỳ và Iran cũng không thuận tiện cho việc Iran ngăn chận hoạt động của Taliban trên vùng biên giới phía tây, mặc dù, ngay từ đầu, Iran đã không ủng hộ Taliban và rất ngại nguồn ma túy từ Afghanistan đổ vào Iran. Trên phía bắc, mặc dù các quốc gia Trung Á không còn ở trong liên bang Xô Viết cũ, nhưng nếu mối quan hệ giữa các nước nầy với Nga còn sâu đậm thì họ sẽ đứng về phía Nga khi có mâu thuẫn với Mỹ. Tuy Nga không ủng hộ Taliban nhưng liệu Nga có thể quên mối hận Mỹ đã ủng hộ cho phe Mujahuideen đánh bại Nga trong cuộc chiến tranh trước? Afghanistan là một quốc gia lạc hậu, mọi thứ đều không hoặc chưa phát triển như hệ thống giao thông, đường bộ, đường xe lửa, v.v… Hệ thống giao thông lạc hậu thì thương nghiệp khó phát triển, làm sao đời sống được nâng cao? Dân tộc Afghanistan thuộc vùng văn hóa chăn nuôi: dê, bò, sữa, nhiều hơn nông nghiệp. Đất đai phần nhiều là sa mạc và núi non hiểm trở nên lúa mì được trồng rất ít. Afghnistan có những trường đại học khá cổ, nhưng trong thời kỳ Taliban cai trị, việc giáo dục là không cần thiết nên nó càng ngày càng lụn bại. Ngành y tế cũng rất lạc hậu, khi Taliban cai trị, hạn chế tiếp xúc với tây phuơng nên nước nầy thiếu nhiều cơ sở y tế hiện đại. Các địa phương, các vùng xa xôi núi non hiểm trở, thiếu vắng các y tế cơ sở và y tá. Hiện nay, việc giáo dục và y tế đang được chấn chỉnh, xây dựng, phát triển, nhưng những công việc đó cần có thời gian và nhân sự có đủ khả năng. Đây là một cuộc chiến tranh nhân dân, với dân số 32 triệu người, rộng gấp đôi lãnh thổ Việt Nam, 647 ngàn Km2, yếu tố nhân dân là rất quan trọng, sinh tử. Phe nào nắm được dân, được dân chúng ủng hộ thì có hy vọng thắng lợi. Trước hết, việc an ninh của người dân là ưu tiên. Một người dân thường, khi đứng về phe nầy hoặc phe kia là vì muốn bảo vệ tính mạng của họ. Trong những vùng tranh chấp, ban ngày, phe địch rút lui, núp lén đâu đó, trong các hang động, mật khu chẳng hạn. Đêm tối, chúng sẽ bung ra hoạt động. Trước hết, chúng khủng bố, giết chóc, trừng trị những người nào hợp tác với chính quyền. Do đó, người dân sợ hãi, nằm im, thúc thủ. Thứ nữa, bọn lãnh đạo, chỉ huy du kích thường che dấu bộ mặt độc ác của chúng dưới những bình phong tốt đẹp, giả dối mà người dân rất dễ bị lầm lạc. Chẳng hạn, bọn Taliban khích động tinh thần tôn giáo của người theo đạo Hồi, khuyến khích lòng cuồng tín, cũng như sự mâu thuẫn giữa người Tây phương, người theo đạo Thiên Chúa với người Hồi; giữa người Do Thái, quốc gia Do Thái, xung đột với Palestine mà người Palestine theo Hồi giáo. Điều đó, khá giống với Việt Cộng ngày trước núp dưới chiêu bài dân tộc, tinh thần chống Pháp thực dân đô hộ Việt Nam gần 100 năm. Đặc biệt, đối với người dân Afghanistan ở những vùng xa xôi hẻo lánh, tinh thần bộ tộc còn mạnh. Họ giữ lòng trung thành với lãnh chúa hơn là ủng hộ chính phủ dân chủ trung ương. Họ vâng lời các lãnh chúa hơn là chấp hành luật pháp chính phủ. Đó là những trở ngại rất lớn khiến nhiều khi chính phủ trung ương, Kabul cũng như Islamabad đành chịu bó tay. Vì vậy, chính phủ trung ương phải dàn hòa và bắt tay với các lãnh chúa địa phương. Cuộc chiến tranh người Mỹ phải đối đầu hiện nay là một cuộc chiến tranh toàn diện, có nghĩa là ngoải lãnh vực quân sự, an ninh, còn có các lãnh vực kinh tế (công nông nghiệp, chăn nuôi, giao thông, thương mại,v.v…) giáo dục và y tế… Như cách nói ngày trước ở Việt Nam, phải tát nước và bắt con cá (du kích). Các nước trong thế giới tư bản, dĩ nhiên, có rất nhiều chuyên gia về chiến tranh chống du kích. Nổi tiếng nhứt là Sir Robert Thomson, người Anh, đã từng giúp chính phủ Mã Lai và Philippine diệt trừ du kích ở các nước nầy. Hiện nay, những chuyên viên chống du kích không thiếu gì ở các đại học Mỹ. Tuy nhiên, không giống như Sir Robert Thomson ngày trước, chưa thấy ai ra mặt để tham gia trưc tiếp và tại chỗ để góp phần diệt trừ Taliban ở Afghanistan. Ấy là chưa kể, người Mỹ có nhiều hạng khác nhau. Nhiều người Mỹ rất hãnh tiến. Nếu họ là cấp chỉ huy các cuộc chiến tranh, như kiểu Rumsfeld hoặc Dick Cheney ở Iraq thì việc thu phục nhân tâm khó lắm. Thu phục nhân tâm là yếu tố bắt buộc trong cuộc chiến tranh nhân dân. Cuộc chiến tranh nầy không hy vọng chấm dứt sớm được. Nếu ngăn chận được các nguồn tiếp liệu từ các nước chung quanh đưa vào cho Afghanistan như Pakistan, Iran, các nước Nam Á thì cũng phải năm ba năm mới thành công hoàn toàn. Còn nếu các nước chung quanh còn muốn “đá giò lái” Hoa Kỳ, hoặc vừa ăn tiền vừa “đá giò lái” như Pakistan đã làm thì 5 năm, 10 năm nữa, hết vài ba đời tổng thống Mỹ, tình hình xem ra cũng chưa xong. Điều đó, làm cho chúng ta nhớ, vì nguồn tiếp liệu và hành lang xâm nhập từ bên ngoài, tháng 3 năm 1970, quân Mỹ, sau đó là quân đội Việt Nam Cộng Hòa tấn công vào Campuchia, lật đổ chế độ Sihanouk. Một điều đáng trách cứ. Chính các nước Tây Âu, với chính sách thực dân, từng bóc lột và hưởng nhiều quyền lợi ở Afghnistan và nhiều nước ở Trung Đông, nhắm bộ không tích cực lắm trong việc góp tay với Mỹ để tiêu diệt Taliban. “Khi vui thì vỗ tay vào, đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai”, ngoài một mình nước Mỹ. Thôi, lính Mỹ hãy về đi. Và họ đã... bỏ chạy... (1) Tháng 12 năm 1978, Việt Cộng vượt biên giới tấn công Kampuchia. Ngày 7 tháng 1 năm 1979, Việt Cộng chiếm thủ dô Phnom pênh. Tháng 2 năm nầy (sau Việt Cọng 1 tháng), Liên Xô đem quân vào Á Phủ Hãn. Năm 1988, Liên Xô rút quân khỏi Á Phủ Hãn thì năm sau, 1799, Việt Cộng rút quân khỏi Kampuchia. Thầy trò tấn thối rất hòa nhịp. (2) Dương Nguyệt Ánh (1960 – ) là một phụ nữ người Mỹ gốc Việt với vai trò lớn trong Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ. Bà sinh ở Việt Nam, cùng gia đình tỵ nạn sang Mỹ năm 1975 khi chính thể Việt Nam Cộng hoà sụp đổ. Dương Nguyệt Ánh tốt nghiệp Đại học Maryland, ngành kỹ sư hóa học, khoa học điện toán và quốc gia hành chính. Sau đó bà làm việc cho Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ với chức Tổng giám đốc Khoa học và Kỹ thuật của Trung tâm Vũ khí Hải quân Hoa Kỳ (Naval Surface Warfare Center) tại Maryland, tiểu ban chất nổ với nhiều giải thưởng. Bà từng là người đại diện cho Hoa Kỳ trong Liên minh Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương (NATO). Bà cũng là tác giả của bom áp nhiệt (thermobaric bomb). Bà nhận giải Dr. Arthur Bisson Award for Naval Technology Achievement vào năm 2000, giải Civilian Meritorious Medal năm 2001 và giải Service to America Medal for National Security năm 2007. Dương Nguyệt Ánh có lập trường chống Cộng sản rõ rệt và thường phát biểu quan điểm chống đối của bà đối với chính quyền Cộng Sản Việt Nam. Dương Nguyệt Ánh thuộc dòng dõi cụ nghè Vân Đình Dương Khuê, là cháu ruột của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước. (theo Wikipedia)

Hoàng Long Hải

Mục Lục


8. MƯA QUÊ HƯƠNG

Đinh trọng Phúc



Mưa quê hương, đó là lúc ta đưa tay hứng những giọt nước trong ngần, mát lạnh; chợt một niềm thương, nỗi nhớ len lén vào lòng. Kỷ niệm về một thuở tuổi thơ, những chiếc thuyền giấy nổi bập bềnh theo trọt nước trước hiên. Ngày đó xa rồi, dưới mái tranh quê hay miền trung chứa chan hoài niệm. Nhưng mỗi khi quê hương đang chống chọi trong dòng nước lũ cố tìm sự sống thì bao giọt mưa kia lại hiện thân cho nỗi lo sợ hãi hùng. Mưa quê hương mỗi lúc đông về kèm theo nước lũ đó là lúc trời đất biến thành khổ ải, tang thương phủ chụp lên lớp người dân nghèo lam lũ. Bao dòng nước mắt đau thương miền trung sao vẫn tuôn rơi mãi với số phận định phần. Cố gắng quên những bi khúc do mưa để thi vị hóa hình ảnh của mưa đó là "khúc luân vũ" đáng yêu từ trời cao ban xuống trong ngần từ bao giọt nước trong ngần, long lanh rơi xuống trần gian. Chất phát, gần gũi với người làm ruộng- mưa là lúc kẻ nông phu ngước mặt nhìn trời, lòng hả hê vui sướng khi nghĩ đến bao hạt lúa vàng căng đầy nhựa sống cho mùa gặt tới. Lắm lúc mưa là lúc người thi sĩ nhìn qua khung cửa hay nghe tiếng nước rơi trên hàng sầu đông rồi dệt nên nhiều vần thơ mượt mà, cảm tác. Người nhạc sĩ chợt rung động vội ghi ngay từng nốt nhạc buồn trong tiếng mưa rơi. Lại buồn thay cho người cô phụ, con tim giá băng quặn thắt, bao năm dài nhớ chồng vĩnh viễn đi xa. Tình cảm hơn, ta lại nghĩ về bao mối tình mãi vương vấn tơ lòng, ai đó lúc tương tư trên căn gác vắng. Sống với hoài niệm, biết ơn, ta sẽ nhớ về chuyện ngày xưa trên vùng biên giới xa xôi, có anh chiến sĩ vội kéo tấm poncho lúc màn mưa theo gió quất xối xả vào người... Nói sao hết chuyện trần gian khi mưa trời rơi xuống. Dù sao chăng nữa, mưa muôn đời vẫn là mưa. Đó là sự kết tinh bao làn hơi, trả lại thế gian những giọt nước tinh khiết, sau bao chuyến phiêu lưu kỳ thú trong không gian thênh thang và quãng khoát. Những mầm xanh sẽ nhú, bao mạch sống sẽ tiếp nối vào đời cũng nhờ mưa. Lạy trời mưa xuống Lấy nước tôi uống Lấy ruộng tôi cày... Niềm ước mơ, mong muốn của người dân quê mộc mạc biết chừng nào. Biết bao khao khát nhưng thực tế của những ai từng an phận với đời sống "chân lấm tay bùn". Cuộc đời của lớp người "cày sâu cuốc bẫm" như quyện vào những câu ca dao chất phát truyền miệng với nhau dù qua bao nhiêu thế hệ người làm nông vẫn luôn ghi nhớ nằm lòng. Người bám đất và đất nuôi người. Người dân quê lớn lên từ ruộng đồng chỉ những ước mong đơn điệu. Cuộc đời mộc mạc, họ đâu mơ chi phù phiếm xa hoa? Bao ước mơ từ xóm làng lam lủ không gì hơn là hình ảnh của những "bát cơm đầy"hay "rơm đun bếp". Nhưng khi lụt về, đó là lúc "ông tha mà bà chẳng tha", điệu luân vũ của trời và đất lại trở thành hung tợn. Dòng nước cuồng điên đang gieo muôn triệu khối nước đày đọa lên bao tấm thân gầy nghèo khổ, tội tình. Biết bao kiếp người chỉ biết những cầu xin đơn thuần bình dị. Mưa bỗng dưng hóa thân thành khổ ải, tang thương với bao dòng nước lũ băng băng, chảy xiết! Ôi! những mái tranh tan tác, nổi trôi; bao ruộng nương chìm đắm. Mưa giờ không là thơ là nhạc, mà là những tiếng khóc ai oán thê lương! Miền trung bao đời vẫn thế: căng mắt canh chừng cơn thịnh nộ của thiên nhiên khi thu về đông đến. Những giấc ngủ chập chờn trong gió thét mưa gào. Lụt -bão sao mãi hoài là 'định mệnh an bài' cho miền đất khổ -nắng cháy da người-mưa dầm thối đất? Thế mà lạ làm sao? Ai đi xa cũng muốn mau về nhà. Chỉ vắng nhà ít hôm thôi, người xa nhà chưa gì đã nhớ đã thương. Mẹ già nhớ hàng cau, thương bụi rơm bên mái tranh nghèo, vấn vương làn khói cơm chiều hay chắt chiu từng chút rơm đun bếp. Bác nông phu nhớ con trâu già cùng mấy thửa ruộng thân yêu. Bác nhớ làm sao những trưa nghỉ cày lúc ngồi vấn thuốc. Đó là những trưa bác dựa lưng bên gốc cây làng ngó lên Trường Sơn xanh thẳm. Tình quê chỉ ngần ấy thôi nhưng mặn mà chẳng chút nhạt phai. Một quê hương gian khó với thiếu thốn gian nan nhưng tình quê mãi mãi nồng nàn, lòng yêu thương làng nước chẳng hề phai nhạt. LỤT LẠI VỀ, chuyện "đày đọa của ôn trời" chẳng hề thay đổi. Nước tràn vào làng, chảy băng băng ngoài ruộng. Lụt mấp mé vào đến cái trọt nước trước hiên. Mấy cặp mắt đau đáu nhòm chừng, phấp phỏng lo âu... Cái sập lúa vẫn còn an toàn trước mắt mạ. Trai tráng trong nhà chẳng còn việc chi, đang đi kiếm vài mớ cá nước lụt. nước lên phủ ngập cánh đồng, đôi bờ tre xóm dưới lờ mò theo làn mưa. Cái tơi không đủ che thân, người lo đi cất rớ, kẻ khác đi nơm. Mớ cá kiếm về, nặng mùi bùn đất làm ai cũng vui quên cơn gió lạnh. Nhạc mẫu tôi kể lại cho vợ chồng người viết nghe chuyện dưới quê ngày xưa vào cơn giáp hột. Môn khoai cũng cạn sạch, nhưng lúa ngoài đồng chưa chín. Có lúc túng quá người mình phải ra đồng truốt những hạt lúa chín trước ở phần chót bông về giã ra nấu ăn tạm. Những ngày giáp hạt như thế, người dưới quê ngó quanh nương chẳng còn gì bỏ được vào om. Thế mới biết tại sao người xưa (hay miền trung) hay để dành, hà tiện chắt chiu từng củ khoai khúc sắn là thế. Dù được mùa, nhưng chẳng ai quay lưng phụ phàng với khoai môn cả. Hình ảnh mạ ngồi cắt từng mớ khoai măng, phơi khô phòng đói. Những sợi khoai khô vuông dài, mạ mừng do phơi được nắng. Ngoài khoai khô, mạ còn cất vài thúng sắn lát, mong mỏng cong cong... Khoai sắn phơi khô, con nhà nông ai mà chẳng quý. Nhớ hình ảnh mạ lom khom cất đặt từng mớ khoai khô vào trong sập gỗ, mạ cất đặt như nâng niu thương mến vô cùng. Mạ còn gắng chắt chiu, gom từng cọng rơm, mong răng ngọn lửa phập phồng trong gió ngoài nương vẫn nấu chín nổi nồi cơm hấp sắn. Mớ cá hôm nay, những con cá mụn mạ kho cho cả nhà, sao thơm tho ngon miệng lạ thường. Giêng Hai đến là lúc trời lạnh như "cắt da". Bao thiếu thốn, bao tính toán lo toan. Đàn ông vác cày ra ruộng thì lại phải lo ăn, mà ăn 'làm răng' thì đã có mạ lo. Mạ lo, là 'lo ăn cho đủ đến khi giáp hạt. Chỉ rứa thôi, khi cái vòng lo toan không bị ông trời làm cho trắc trở thì con nhà nông thở ra nhẹ nhõm. Cũng là lúc cái "vòng đời" lam lũ tính đủ một năm tròn mong sức người vẫn còn dẻo dai để cấy cày làm ra hạt gạo. Mong làm răng thoát cái cảnh nước tràn vô đồng mà chảy băng băng làm ngọn lúa không ngóc đầu lên được. Đó là lúc trời còn giúp cho con nhà nông lo toan đủ hai vụ cấy cày. Đầu mùa gieo mạ cấy lúa, cuối mùa gánh về nhà những gánh lúa được mùa nặng hạt. Trời còn thương thì người làm ruộng chẳng màng chi tuổi đời chồng chất, tưởng sức mình như đeo mãi với ruộng lúa con trâu... Chuyện ngày xưa, chuyện những ngày giáp hạt, đó là lúc con người chân lấm tay bùn vẫn mãi bấm bụng nhịn cho qua cho quen những ngày thiếu đói. Đó là lúc lúa ngoài đồng đang nặng dần những hạt lúa kết tinh từ mồ hôi nước mắt của người nông dân tháng ngày miệt mài trên đám ruộng thân yêu, ươm đầy hi vọng của ấm no trước mắt. Cứ mỗi lúc "qua truông giáp hạt" đó là vòng tuần hoàn của một năm tròn. Rồi bác nông phu bấm đốt tay tính thêm được một tuổi đời hay vòng trần thế già thêm mười hai tháng. Bên mảnh đất thân yêu muôn thuở, bên mái tranh ấp ủ tình quê, cạnh bụi chuối bờ tre người nông dân vẫn mãi tấm lòng chung thủy đất-người. Ngày lại ngày qua bốn mùa xuân hạ thu đông 'cày sâu cuốc bẫm'. người làm ruộng chỉ một niềm mong đợi đơn sơ "Ăn sao cho đủ tới khi GIÁP HẠT !" Thế thôi, một đời dân dã, đơn thuần người miệt quê chẳng ai biết mong chi lâu dài hay cao sang hơn nữa. Qua bao nhiêu năm hay nhiều đời con cháu tiếp nối, sau lũy tre làng lòng người dân quê chỉ ngần ấy ước mong. Nhưng rồi mỗi khi gió thét mưa gào, nước chảy băng băng, đó là lúc lòng người chỉ biết nhất tâm cầu nguyện ơn trời. Cho đến khi trời êm lụt hết, tình quê vẫn mãi nồng ấm tràn trề không hề thay đổi. Người làm ruộng vẫn miệt mài một nắng hai sương chắt chiu tháng ngày bên bờ mương thửa ruộng trong tình cảm thủy chung cho đến khi sức tàn lực kiệt, trọn kiếp con người./.

Đinh trọng Phúc

Mục Lục


9. CHỊ HÀNG XÓM CŨ

KIM LOAN



Năm tôi học lớp 12, con nhỏ xinh nhất lớp đi lấy chồng, mời gần cả lớp đi dự. Lần đầu tiên trong đời được đi ăn cưới với tư cách đã trưởng thành (tuổi 18, chớ không phải đi …ăn theo bà con họ hàng chòm xóm). Tôi và nhỏ bạn thân bàn tính, phải ăn diện trang điểm cho thật đẹp, nhưng ở tuổi đó, vào thời đó, hai đứa chẳng có một bộ đồ “make-up” nào. Hơn nữa, mấy anh chị lớn trong nhà không đồng ý chuyện điểm phấn tô son ở tuổi học trò. Chúng tôi vẫn nhất quyết muốn được làm đẹp, bèn nhớ ra chị Hà trong xóm. Chị lớn hơn tôi 7-8 tuổi, thuộc thế hệ mấy ông anh tôi, nhưng chị là “thần tượng” của tôi vì chị thông minh, xinh đẹp với dáng người cao ráo, nước da trắng và nụ cười duyên dáng. Cửa sau nhà tôi đối diện cửa sau nhà chị. Má tôi và má chị từng quen biết thân thiết, sau khi má tôi mất thì má chị hay qua nhà tôi, mỗi khi có chuyện trọng đại như giỗ quảy, cưới hỏi, coi như thay mặt cho má tôi, nên tôi với chị coi như cũng là chỗ “người nhà”. Thế là chúng tôi đến nhờ chị bí mật trang điểm cho hai đứa, tụi tôi mặc quần áo sẵn sàng, ghé qua nhà chị, trang điểm xong là đi thẳng đến đám cưới. Chị la oai oải: - Thôi, thôi! Anh chị nhà em đã cấm, sao chị dám làm chớ, mặc dù chị không tiếc chuyện trang điểm cho tụi em. Tụi tôi năn nỉ: - Chị làm ơn giúp tụi em! Đây là lần đầu tiên tụi em được làm người lớn, đám cưới này có bạn bè và nhiều người khác bên đàng chú rể, tui em nhất định phải …đẹp!!! - Nói thiệt, chị thấy tụi bay tuổi mới lớn, má đỏ môi hồng tự nhiên, mắt sáng da căng quá đáng yêu, cần gì trang điểm nữa! Mà thôi, chị sẽ đánh chút phấn thơm và thoa chút son, nha! Chúng tôi đành chấp nhận, dù sao có vẫn còn hơn không. Nhà chị có người nhà bên Mỹ gửi quà về, nên chắc chắn đồ trang điểm của chị thuộc loại “xịn”. Nhưng sau khi xong xuôi, chúng tôi nhìn vào gương vẫn không hài lòng, không thấy mình…lộng lẫy thêm tí nào. Hai đứa rủ nhau về nhà nhỏ bạn, mượn cây son của chị dâu của nó, rồi trét lên môi đỏ chót, rồi kẻ cặp mắt đậm lè, rồi tự tin kêu xích lô đến tiệc cưới. Tưởng mọi chuyện êm xuôi, sau ngày đám cưới vài hôm, chị Hà gặp tôi, phàn nàn: - Sao tụi em cãi lời chị, tô son kẻ mắt như bà đồng bóng, mất hết vẻ đẹp ngây thơ của tuổi học trò, bà chị của em mắng vốn chị kìa!!! - Ủa, sao chị em biết chớ, trước khi về nhà đêm đó, tụi em đã xoá hết màu son màu mắt rồi mà? - Làm sao chị biết được! Tụi bay làm mất uy tín của chị rồi! Dĩ nhiên là tôi bị bà chị Cả và ông anh thứ tư (khó tính nhất nhà) mắng cho một trận nhớ đời. Sau lần đó, tôi đâu dám gặp chị vì biết chị còn giận, ai ngờ số phận đẩy đưa (chắc là mắc nợ nhau), vài năm sau đó, tôi và chị lại tái hợp trong một chuyến vượt biên. Tờ mờ sáng hôm đó, hai chị em tỉnh dậy, (tối qua tôi đã qua nhà chị ngủ để sáng ra bến xe đi Miền Tây, vượt biên). Xuống dưới nhà, ba mẹ chị thắp nến bàn thờ Chúa, bốn người đọc 10 kinh, rồi mẹ chị gói hai gói xôi cho chúng tôi để vào giỏ hành lý. Chị hỏi tôi: - Xuất phát cửa trước hay cửa sau đây? - Cửa sau đi chị! Cửa trước sợ gặp mấy hàng xóm đi làm sớm, nhứt là chú Tư ba gác! Hai đứa bèn đi cửa sau, vừa bước ra gặp bên hông Chùa, tiếng mõ dìu dặt nhịp nhàng của buổi công phu sớm làm lòng tôi xao xuyến: - Chị Hà ơi, nghe tiếng chuông chùa, tiếng mõ thân quen, em bước đi …hổng đặng! - Trời ơi! Nhà ngươi làm ơn bỏ cái tính cải lương sến sẩm, ưa mủi lòng đó được không? Cái miệng ăn mắm ăn muối nói tào lao, chưa ra bến xe đã chùn chân rồi! - Úi, em xin lỗi chị! Nhưng lần sau tụi mình nên xuất phát cửa trước … Chị đánh vào vai tôi thiệt mạnh: - Lại nói bậy nữa rồi! Lần sau là sao? Bữa nay đi là đi luôn chớ! - Dạ em xin chừa, từ giờ phút này hổng dám mở miệng nói gì nữa!! - Mà lỡ rồi, chị nói luôn nà, đi cửa trước sẽ qua nhà thờ, lại có tiếng chuông kêu Lễ sớm, mày lại …xao xuyến, tốt nhứt là có cánh bay thẳng tới bến xe … Hai chị em nhìn nhau cười mỉm chi. Vừa quẹo ra khỏi xóm Chùa ra đường cái, cả xóm vẫn ngủ im lìm trong bóng tối của trời nửa đêm về sáng, bỗng chị níu tôi lại: - Ê, hình như có xe ba gác của chú Tư, mà còn có cả thím Tư ở trên xe nữa kìa, tính sao đây? - Không xong rồi chị ơi! Thím Tư được xóm mình gọi là Thím “Tám” là chị đủ biết rồi đó! Vào đây núp đi chị! Hai chị em tạt vào chiếc cổng của căn nhà bên đường, nép bên cột hàng rào. Tự dưng tôi rùng mình, nhìn lên cây dừa cao vút nơi góc sân căn nhà, run rẩy thì thầm: - Chị Hà ơi, em sợ quá! Chị cũng hoảng hốt: - Vụ gì nữa đây? Tôi chỉ cây dừa: - Chị hổng nhớ gì sao!! Tôi vừa dứt câu, chị cũng run lẩy bẩy. Căn nhà này, mới tuần trước, gia chủ có đám cưới, anh con trai trèo lên cây dừa hái lá để làm rạp cưới cho em gái, nhằm ngày trời mưa mới tạnh, dây điện giăng ngang cây dừa bị chập điên, anh ấy bị điện giựt nằm vắt vẻo đen thui trên ngọn dừa, cả xóm không ai dám nhìn, vậy mà khuya nay chúng tôi đang đứng dưới cây dừa, hỏi sao không toát mồ hôi hột ?? Chị Hà kéo tôi đi như chạy: - Bây giờ có gặp mười thím “Tám” cũng chịu luôn em ơi! Hai chị em vừa chạy, tuy sợ ma nhưng lại cười suốt cả đoạn đường cho đến lúc bắt được xe ra Xa Cảng thẳng tiến Cần Thơ. Chúng tôi ở Cần Thơ và Long Xuyên mỗi nơi vài ngày rồi đón xe lôi đến Sóc Trăng. Đêm chờ ghe nhỏ tại ven sông Sóc Trăng, hai chị em thao thức, không ngủ được. Tôi hỏi: - Tụi mình đi bất ngờ, chắc chị chưa có dịp chia tay chàng bác sĩ của chị ha? - Ừa, chiều nhận tin là tối gói hành lý liền, đâu kịp gặp ai! Chị có viết mấy lời, khi nào ảnh tới nhà thì má chị sẽ đưa. - Chị nói gì ở trỏng? - Chị ghi gọn gàng lắm: Anh Giao, em đi vượt biên, anh đừng chờ đợi ! - Trời, sao mà phũ phàng còn hơn Lan cắt dây chuông không cho Điệp vào thăm vậy trời!! - Thì mình đi rồi, phải cho người ta tự do chớ,! Còn em, có …nhắn gì cho ai không?! - Dạ, em cũng chẳng kịp suy nghĩ, không biết nên nhắn… cho ai!! Mà miệng tôi “ăn mắm ăn muối”thiệt, nói xui nói xẻo khi vừa bắt đầu, nên qua ngày hôm sau chúng tôi lại khăn gói trở về thành phố. Chàng Bác sĩ biết nỗi “đam mê” của chị nên hơn một năm sau, hai anh chị lên đường qua Cambodia rồi lên tàu vượt biển qua Thailand. Một năm sau tôi cũng đi theo, nhưng đến trại thì anh chị đã đi định cư, mãi hơn 20 năm sau hai chị em mới được tái ngộ tại Nam California. Hôm nay tôi viết lại kỷ niệm này, mong chị đọc được, coi như tôi …tạ tội cho lần lỡ dại “điệu đà tuổi 18” và cái miệng “mắm muối” thuở nào!

KIM LOAN

Mục Lục


IV. Hộp Thư Toà Soạn

Nguyệt San Giao Muà xin cám ơn những thân hữu đã dóng góp bài vở cho Nguyệt San Giao Muà số 287 . Một số bài khác sẽ được đăng dần vào số tớị Mong mỏi sẽ nhận được những sáng tác của các bạn bốn phương để cho Nguyệt San Giao Muà thêm phần hương sắc trong tương laị

Mục Lục

Thể lệ để nhận Nguyệt San Giao Muà: 1) Ðể vào danh sách của NSGM (subscribe), xin gửi email về GiaoMua2025@gmail.com
2) Ðể rút ra danh sách của NSGM (unsubscribe), xin gửi email về GiaoMua2025@gmail.com
3. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về: GiaoMua2025@gmail.com 4. Mọi bài vở, đóng góp, xin gửi về: GiaoMua2025@gmail.com Nguyệt San Giao Muà Homepage: http://www.GiaoMuạcom Thể lệ gửi bài cho Nguyệt San Giao Muà: Mong bạn gửi Bài cho GM theo cách này là tốt nhất : 1. Dùng mẫu chữ Unicode 2. Viết Hoa chữ đầu của bài và bút hiệụ Ví dụ: Giọt Mưa Trên Lácủa NS Phạm Duy 3. Gửi bài ngay trong email (không kèm file), để cho BBT khỏi mất công download xuống để đọc 4. Gửi tất cả các bài trong 1 tháng 1 lần trong1 email, nếu tiện. 5. Bài vở xin gửi đến trước ngày 25 mỗi tháng 6. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về: GiaoMua2025@gmail.com Cám ơn bạn rất nhiều, vì nhân sự có hạn, BBT không thể ngồi đánh máy lại từng đề bài hay bút hiệụ

Ðịa Chỉ Liên Lạc:

Nguyệt San Giao Muà
Merrifield, Virginia 22116
USA

Trang Nhà 

Web Counters
Web Site Hit Counter

Copyright 2002 by Giao Muà e-magazine and respective authors